Đôi ba chuyện về xử thế

trongkimtrn

Phàm Nhân
Dịch Giả Trường Sinh
Ngọc
1.450,86
Tu vi
0,00
Những mẩu chuyện về các nhân vật nổi bật Đông Tây từ cổ chí kim đến nay chắc chắn luôn cuốn hút người đọc. Sau này tôi sẽ tổng hợp một số câu chuyện dạng này từng nghe nói qua hay đọc được trong một loạt bài. Mở đầu là topic tổng hợp với một vài câu chuyện về thuật xử thế. Và mong rằng topic sẽ được mọi người đóng góp thêm những câu chuyện mà mình thấy tâm đắc cho thêm phong phú.:54:

❋ Thuật thứ nhất: "Dĩ Tĩnh Chế Động"

+ Câu chuyện 1: Im lặng là vàng

Liêm Pha là một vị danh tướng của Triệu quốc, đã từng lập nhiều công lao; là một người được toàn quốc tôn kính. Ông thấy địa vị của Lạn Tương Như còn cao hơn ông. Ông thấy không phục, công khai nói :

- Tôi là vị đại tướng không thiếu lần ra sống vào chết, đổ biết bao nhiêu mồ hôi và máu mới có được, nay Lạn Tương Như chỉ dùng cái miệng mà trèo lên đầu tôi, làm sao tôi bảo người ?

Ông còn nói :

- Nếu tôi gặp Lạn Tương Như, tôi sẽ làm cho ông ấy mất mặt.

Lạn Tương Như nghe được chuyện này, bèn cố ý tránh Liêm Pha. Ngay cả lên triều, ông cũng thường vắng mặt. Có lần Lạn Tương Như đi xe, xa trông thấy Liêm Pha ở phía trước, bèn ra lệnh cho người đánh xe rẽ vào một con ngõ để tránh. Tùy tùng Lạn Tương Như thấy ông sợ Liêm Pha như thế, nổi giận không chịu được đến trước mặt ông hỏi :

- Chúng tôi bỏ quê hương theo ông vì ngưỡng mộ tài đức của ông, hiện tại địa vị của ông cũng không dưới Liêm Pha. Thấy ông nhu nhược như thế người thường cũng không chịu được, huống hồ là người có địa vị. Được rồi, ông hãy để chúng tôi từ chức về nhà.

Lạn Tương Như nghe họ nói thế không trực tiếp trả lời, chỉ hỏi lại :

- Các ông thấy Liêm Pha tướng quân so với Tần Vương thế nào ?

- Uy nghiêm của Liêm Pha tướng quân không bằng Tần Vương.

- Uy phong như Tần Vương tôi còn không sợ, trước mặt công chúng còn dám mắng ông thì há sợ gì Liêm tướng ? Các ông phải biết rằng Tần quốc không dám đánh Triệu quốc vì văn thần thì có tôi, võ tướng thì có Liêm Pha. Nếu như hai hổ tranh đấu tất sẽ có một bị thương; nước Tần sẽ có cơ hội. Quốc gia mất, nếu so với đắc thất của cá nhân còn quan trọng hơn nhiều, do đó tôi không nhịn không được.

Liêm Pha nghe được câu chuyện này xấu hổ vô cùng, cởi trần, do bạn bè dẫn tới phủ Lạn Tương Như tạ tội, xin Lạn Tương Như đánh ông. Lạn Tương Như thấy thế mời ông vào nhà. Hai người nói chuyện rất hợp. Từ đó trở thành đôi bạn tri kỷ.

+ Câu chuyện 2: Luật sư thắng kiện dù không cãi

Tổng thống Lincoln khi còn trẻ rất hiếu học. Ông đã tự học nhận được giấy phép hành nghề luật sư. Tài tranh cãi và mưu trí linh hoạt của ông trong các vụ xét xử tại tòa án đã được quần chúng ngưỡng mộ, tán thưởng. Một lần ông đã dùng một cách độc đáo để giành thắng lợi trong vụ kiện.

Trong phiên xét xử tại tòa án, luật sư bên nguyên đã thao thao bất tuyệt, nói đi nói lại dài dòng tới 2 tiếng đồng hồ về một hai luận cứ đơn giản, quan tòa và công chúng đề ngán ngẩm, rầm rì chê trách, có người đã ngủ gật. Cuối cùng ông luật sư đó cũng đã nó xong, đến lượt Lincoln là luật sư của bên bị lên bục, nhưng ông im lặng không nói gì, hội tường im phăng phắc, cử tọa rất ngạc nhiên.

Một lúc sau Lincoln cởi áo khác ngoài, đặt lên bàn, sau đó cầm tách trà uống một hớp nước rồi lại cởi áo khoác trong và uống nước rồi lại mặc áo vào, cứ thế làm đi làm lại dăm sáu lần. Quan tòa và công chúng bật cười ha hả trước màn kịch câm của Lincoln. Lincoln vẫn không nói gì, rời diễn đàn trong tiếng cười hoan hỉ còn đối thủ của ông bị “cười” thua kiện.

Là luật sư, không nói gì mà thắng được kiện là một việc rất khó khăn. Luật sư bên nguyên đã nói năng dài dòng làm công chúng chán ngán, nếu Lincoln lại tiếp tục tranh luận tràng giang đại hải thì hậu quả sẽ ra sao chắc mọi người đều rõ. Vì vậy ông đã dĩ tĩnh chế động, không nói một câu, dùng phương thức kịch câm đánh bại đối thủ, đạt được hiệu quả “vô thanh thắng hữu thanh”.


❋ Thuật thứ hai: Tĩnh tâm giữa khen chê

+ Câu chuyện 1:

Hai cha con dắt một một con ngựa vừa mua được đang trên đường về nhà. Trời nắng chang chang, khi cả người và ngựa đi ngang làng thứ nhất, người trong làng nhìn thấy hai cha con và con ngựa cùng đi bộ, họ chỉ trỏ và bảo:
– Chưa thấy ai ngu như cha con nhà ấy, trời nắng chang chang thế kia, có ngựa không cỡi cho nhanh, lại dẫn đi bộ.

Nghe thấy thế hai cha con mới lên ngựa, khi chạy ngang làng thứ hai, họ lại xầm xì:
– Đúng là cha con nhà ác nhơn, trời nắng thế kia mà cả hai người cùng thượng lên trên lưng con ngựa tội nghiệp.

Nghe thấy thế, thằng con liền nhảy xuống và bảo:
– Họ nói cũng đúng bố à, cả hai chúng ta thì nặng quá, thôi bố cứ ngồi trên ngựa con sẽ dắt cho.

Khi đi ngang qua làng thứ ba họ xỉ vả vào mặt ông bố:
– Ông đúng là người không có lương tâm, trời nắng chang chang thế kia, mình thì ngất ngưỡng trên lưng ngựa, nỡ bắt con mình dắt ngựa như thế sao?

Nghe thế ông bố liền bảo, thôi, cho con lên ngựa cỡi để bố dắt cho.
Khi đi về đến đầu làng, cả làng nhìn thằng con thì ngồi trên ngựa, ông bố thì mồ hôi nhễ nhại dắt ngựa, họ xúm vào chửi chứ không còn là xỉ vả nữa:
– Mày đúng là thằng con bất hiếu, bố mày đã già mà phải dắt ngựa dưới trời nắng cho mày cưỡi, thế mà mày cũng sung sướng thoải mái trên lưng ngựa được sao hả cái thằng đại bất hiếu kia.

Nghe thế, thằng con liền nhảy xuống và hai cha con cùng dắt ngựa về nhà.

+ Câu chuyện 2:

Sô Kỵ, người nước Tề, tướng cao, mặt mũi khôi ngô. Một buổi sáng soi gương, hỏi vợ:
- Ta đẹp hay Từ công đẹp?

Vợ đáp:
- Tướng công đẹp, Từ công sao sánh được?

Kỵ không tin, hỏi lại người thiếp, thiếp nói:
- Từ công sánh gì nổi Tướng công!

Có khách đến, Kỵ cũng hỏi thế. Khách đáp:
- Từ công đẹp sao bằng ngài!

Hôm sau Từ công đến chơi. Kỵ nhìn kỹ, biết mình không bằng. Lại soi gương càng thấy mình kém xa" Ngẫm nghĩ rồi vào triều, tâu với Tề vương:
- Thần vốn biết dung mạo không bằng Từ công, vậy mà vợ thần vì yêu, thiếp thần vì sợ, khách thần thì muốn cầu cạnh, đều nói thần đẹp hơn. Nay nước Tề, đất vuông ngàn dặm, thành quách trăm hai, trong cung không ai là không yêu đại vương, bốn phương không ai là không mong chờ đại vương. Như vậy, đủ thấy người ta đã che mắt đại vương rất nhiều rồi vậy!

Thiết nghĩ, bài học này không dành riêng cho Tề Vương hay Sô Kỵ mà còn dành cho tất cả mọi người.

+ Dân gian ta có câu:

“Ở sao cho vừa lòng người,
Ở rộng người cười, ở hẹp người chê.
Cao chê ngổng, thấp chê lùn.
Béo chê béo trục béo tròn.
Gầy chê xương sống xương sườn lồi ra”.


Nguồn sưu tầm: Internet và nhiều sách khác nhau
(P.s: Vì ta trước giờ ko biết gì về xử thế hết nên đặt nó lên đầu tiên:107:)
 
Last edited:

kimtrongnew

Phàm Nhân
Ngọc
5.835,80
Tu vi
0,00
Nhân hay trí

Thầy trò Khổng Tử bỏ nước Lỗ lưu vong ra nước ngoài. Một hôm Khổng Tử gọi Tử Cống (một trong 72 học trò hiền của Khổng Tử) hỏi:

- Theo con, thế nào là người nhân, thế nào là người trí?

Tử Cống suy nghĩ một lát rồi đáp:

- Thưa thầy, người nhân là người biết thương người; người trí là người hiểu người.

Khổng Tử khen "hay". Rồi kêu Tăng Tử vào hỏi lại câu trên. Tăng Tử suy nghĩ một hồi rồi đáp:

- Thưa thầy, người nhân là người biết thương mình; người trí là người tự biết mình.

Khổng Tử chịu quá! Đoạn ông gọi Tử Lộ vào hỏi:

- Theo con, thế nào làngười nhân, thế nào là người trí?

Tử Lộ thưa:

- Theo con, người nhân là người làm sao cho người khác thương được mình; còn người trí là người làm sao cho người khác hiểu được mình!...

Khổng Tử rất đỗi ngạc nhiên, ngửa mặt khen rằng:

- Bất ngờ thay!...


Cùng một câu hỏi nhưng ba câu trả lời hoàn toàn khác nhau, đây thật là điều thú vị và bất ngờ.

Nhưng ta thường thấy việc đời không khác nào một dòng sông, có lúc từ trên cao đổ ào ào xuống vực sâu, có lúc trườn mình, len lách qua hẻm núi, có lúc thênh thang lặng tờ giữa bình nguyên... thiên hình vạn trạng. Nhưng mỗi dạng trạng đều phù hợp với mỗi hoàn cảnh. Bởi không bao giờ trời mưa lụt mà sông cạn, trời nắng hạn mà nước sông dâng. Núi dựng bạt ngàn dòng sông không thể không uốn mình lượn theo thế núi. Con người cũng thế. Có lúc ta vì người và người vì ta, có lúc ta vì ta, và người vì người, theo hoàn cảnh mà hành sự. Như thế mới không lỗi. Trong toán học cũng có những vấn đề như trong nhân sinh.

Trước đây 2300 năm, nhà Toán học Hi Lạp, Eulide phát biểu: - "Từ một điểm ngoài đường thẳng, ta chỉ vẽ được một và chỉ một đường thẳng song song với đường thẳng đã cho"! Ai muốn học toán lên cao bắt buộc phải chấp nhận lời yêu cầu này. Vì đây là một điều hiển nhiên.

Thế mà ở Anh, Remann lại phát biểu: - "Từ một điểm ngoài đường thẳng, ta không vẽ được một đường thẳng nào song song với đường thẳng cho trước"!

Chưa hết! Sau đó nhà toán học Laubatchewsky lại phát biểu: - "Từ một điểm nằm ngoài đường thẳng, ta có thể vẽ được vô số đường thẳng song song với đường thẳng cho trước"!

Thế có trái ngược không? Hai định đề sau đây phải là sai (vìsai đâu là định đề!), ở toán cao cấp người ta vẫn dùng nó. Tất nhiên muốn dùng nó phải tùy theo điều kiện. Người ta thường nói, "chân lý ở bên này Pyrréneés, sang bên kia trở thành nghịch lý".

Đúng hay không đúng còn tùy theo hoàn cảnh. Qua câu hỏi nhân trí của Khổng Tử, Ngũ tử t.ư ở nước Ngô (người cùng thời với Khổng Tử) nói:

- Không thương mình làm sao thương được người ngoài? Không thương người làm sao người thương ta?

Môn đồ của Khổng Tử chỉ "chẻ t.ư sợi tóc nhân nghĩa" (ý nói phiến diện) mà thôi! Nhân và Trí ít nhiều gì vốn đã có sẵn trong mỗi người, chỉ sử dụng có hợp lúc không thôi! Do đó bất kỳ việc gì, đúng hay sai, công hay tội chúng ta khó mà đem nhận xét chủ quan ra để phán xét được. Bởi việc hành xử của tha nhân còn tùy thuộc hoàn cảnh của họ lúc đó.

- Trích từ sách Thuật Xử Thế Của Người Xưa - Ngô Nguyên Phi
 

kimtrongnew

Phàm Nhân
Ngọc
5.835,80
Tu vi
0,00
Đọc cho vui thôi, đọc rồi quên đó; tự mình bị đập tơi bời ngộ ra cái gì thì nó mới theo mình cả đời đc ..
Lão nói đúng quá, thì người ta cũng bị như vậy mới ngẫm ra đc như vậy. Nên, ko tránh đc, còn học đc gì từ đó thì tùy à:nhamnho:

Nhưng vẫn có những người cũng trải qua như vậy nhưng cách hành xử của họ lại khiến người ta cảm phục, như câu chuyện ở dưới chẳng hạn.:))
 

kimtrongnew

Phàm Nhân
Ngọc
5.835,80
Tu vi
0,00
Lùi một bước biển rộng trời cao

Vào triều đại nhà Thanh, Đổng Giáo Tăng, tên tự là Ích Phủ, người Thượng Nguyên, Giang Tô, gia cảnh vô cùng bần hàn nhưng rất ham học. Năm ấy, Đổng Giáo Tăng một mình mang hành lý đi lên kinh thành dự thi. Trên đường đi, ông gặp một chiếc thuyền cũng tới kinh thành. Lúc ấy đúng vào mùa hè, thời tiết oi bức khó chịu, Đổng Giáo Tăng liền xin chủ nhân chiếc thuyền cho đi cùng tới kinh thành và được đồng ý.

Đổng Giáo Tăng từ lúc lên thuyền luôn miệt mài chuyên tâm học bài, ôn thi. Một hôm, Đổng Giáo Tăng đang ngồi bên cạnh khoang lái đọc bài thì có hai công tử con nhà giàu cũng ngồi trong khoang uống rượu ca hát. Hai công tử này nghe thấy bên ngoài có tiếng người đọc sách thì vô cùng ghét, liền đi ra hỏi: “Ngươi là ai?”

Đổng Giáo Tăng liền nói tên mình, đồng thời cũng kể rằng mình đang lên đường vào kinh dự thi. Hai công tử kia nghe thấy vậy liền giễu cợt, nói: “Một kẻ nghèo hèn như ngươi mà cũng muốn lên kinh thành tìm cầu công danh sao?”. Câu nói của vị công tử kia vừa dứt thì đám bạn ngồi uống rượu cùng anh ta cũng phá lên cười nhạo, hùa theo mà chế giễu, họ không ngừng nói những lời mỉa mai, làm nhục Đổng Giáo Tăng.

Đổng Giáo Tăng bị đám người của hai công tử kia quấy nhiễu không yên. Vì không còn cách nào khác, anh ta đành phải lên bờ đi bộ mấy trăm dặm. Cuối cùng vì đường quá xa nên anh ta miễn cưỡng phải thuê một chiếc xe để tới kinh thành cho kịp ngày thi. Đúng trong kỳ thi năm ấy, Đổng Giáo Tăng đỗ Thám hoa (học vị dưới trạng nguyên). Ông được phong chức quan Biên tu (quan sử thời xưa), sau lại làm Lang trung. Về sau, ông được phong làm quan án sát ở Tứ Xuyên, đến năm Gia Khánh thứ 9, ông được tiến cử làm Bố chính sử (quan thi hành chính sự) ở Tứ Xuyên.


12160.jpg

Đúng trong kỳ thi năm ấy, Đổng Giáo Tăng đỗ Thám hoa.

Vừa hay khi ông nhậm chức ở Tứ Xuyên thì gặp ngay vị công tử năm xưa từng nhục mạ ông cũng đến Tứ Xuyên nhận chức. Khi vị công tử biết Đổng Giáo Tăng được phong làm Bố chính sử Tứ Xuyên, nhớ đến chuyện cũ năm xưa thì trong lòng anh ta vô cùng lo lắng, bất an. Vì thế, vị công tử kia xin từ quan. Đổng Giáo Tăng nghe được chuyện ấy liền đến gặp riêng vị công tử kia và nói: “Năm xưa, Hàn Tín chịu nhục chui háng kẻ vô lại mà về sau vẫn không mang oán thù, ta sao có thể không làm được như cổ nhân? Ngươi không cần phải nhớ đến chuyện năm xưa làm gì!”.

Trong tay có chức có quyền lực lớn nhưng Đổng Giáo Tăng lại không hề nhớ chuyện năm xưa mà dùng tấm lòng quảng đại, khoan dung tha thứ để đối đãi với vị công tử ấy. Điều này khiến mọi người biết chuyện đều thập phần cảm phục nhân cách của ông.
 
Last edited:

Venus

Phàm Nhân
Ngọc
625,17
Tu vi
0,00
Lùi một bước biển rộng trời cao

Vào triều đại nhà Thanh, Đổng Giáo Tăng, tên tự là Ích Phủ, người Thượng Nguyên, Giang Tô, gia cảnh vô cùng bần hàn nhưng rất ham học. Năm ấy, Đổng Giáo Tăng một mình mang hành lý đi lên kinh thành dự thi. Trên đường đi, ông gặp một chiếc thuyền cũng tới kinh thành. Lúc ấy đúng vào mùa hè, thời tiết oi bức khó chịu, Đổng Giáo Tăng liền xin chủ nhân chiếc thuyền cho đi cùng tới kinh thành và được đồng ý.

Đổng Giáo Tăng từ lúc lên thuyền luôn miệt mài chuyên tâm học bài, ôn thi. Một hôm, Đổng Giáo Tăng đang ngồi bên cạnh khoang lái đọc bài thì có hai công tử con nhà giàu cũng ngồi trong khoang uống rượu ca hát. Hai công tử này nghe thấy bên ngoài có tiếng người đọc sách thì vô cùng ghét, liền đi ra hỏi: “Ngươi là ai?”

Đổng Giáo Tăng liền nói tên mình, đồng thời cũng kể rằng mình đang lên đường vào kinh dự thi. Hai công tử kia nghe thấy vậy liền giễu cợt, nói: “Một kẻ nghèo hèn như ngươi mà cũng muốn lên kinh thành tìm cầu công danh sao?”. Câu nói của vị công tử kia vừa dứt thì đám bạn ngồi uống rượu cùng anh ta cũng phá lên cười nhạo, hùa theo mà chế giễu, họ không ngừng nói những lời mỉa mai, làm nhục Đổng Giáo Tăng.

Đổng Giáo Tăng bị đám người của hai công tử kia quấy nhiễu không yên. Vì không còn cách nào khác, anh ta đành phải lên bờ đi bộ mấy trăm dặm. Cuối cùng vì đường quá xa nên anh ta miễn cưỡng phải thuê một chiếc xe để tới kinh thành cho kịp ngày thi. Đúng trong kỳ thi năm ấy, Đổng Giáo Tăng đỗ Thám hoa (học vị dưới trạng nguyên). Ông được phong chức quan Biên tu (quan sử thời xưa), sau lại làm Lang trung. Về sau, ông được phong làm quan án sát ở Tứ Xuyên, đến năm Gia Khánh thứ 9, ông được tiến cử làm Bố chính sử (quan thi hành chính sự) ở Tứ Xuyên.



12160.jpg

Đúng trong kỳ thi năm ấy, Đổng Giáo Tăng đỗ Thám hoa.

Vừa hay khi ông nhậm chức ở Tứ Xuyên thì gặp ngay vị công tử năm xưa từng nhục mạ ông cũng đến Tứ Xuyên nhận chức. Khi vị công tử biết Đổng Giáo Tăng được phong làm Bố chính sử Tứ Xuyên, nhớ đến chuyện cũ năm xưa thì trong lòng anh ta vô cùng lo lắng, bất an. Vì thế, vị công tử kia xin từ quan. Đổng Giáo Tăng nghe được chuyện ấy liền đến gặp riêng vị công tử kia và nói: “Năm xưa, Hàn Tín chịu nhục chui háng kẻ vô lại mà về sau vẫn không mang oán thù, ta sao có thể không làm được như cổ nhân? Ngươi không cần phải nhớ đến chuyện năm xưa làm gì!”.

Trong tay có chức có quyền lực lớn nhưng Đổng Giáo Tăng lại không hề nhớ chuyện năm xưa mà dùng tấm lòng quảng đại, khoan dung tha thứ để đối đãi với vị công tử ấy. Điều này khiến mọi người biết chuyện đều thập phần cảm phục nhân cách của ông.
Là ta thì cũng ko làm gì vị công tử kia đâu, nhưng thi thoảng liếc 1 cái, vị công tử kia sẽ sợ hãi. Sau đấy tìm cách bỏ đi hoặc tìm cách diệt ta.
Đối với tiểu nhân, hoặc giết ngay, hoặc dỗ dành cho mình dùng là vậy. Haizz
 

Mộ Dung Tuyết

Tầm Tiên
Ngọc
-88,89
Tu vi
10,00
Ta nhớ ngày xưa có đọc cuốn “Binh pháp tôn tử 36 kế và xử thế” giờ thấy bài của lão này nội dung cũng tương tự
Đúng là binh pháp tôn tử áp dụng vào xử thế và kinh doanh nếu khéo vận dụng thì cũng thật là huyền diệu
 

kimtrongnew

Phàm Nhân
Ngọc
5.835,80
Tu vi
0,00
Là ta thì cũng ko làm gì vị công tử kia đâu, nhưng thi thoảng liếc 1 cái, vị công tử kia sẽ sợ hãi. Sau đấy tìm cách bỏ đi hoặc tìm cách diệt ta.
Đối với tiểu nhân, hoặc giết ngay, hoặc dỗ dành cho mình dùng là vậy. Haizz
Thực ra sẽ có người nói là lúc đó ông kia đã đứng ở vị trí cao rồi còn người kia chỉ là nhân vật bé nhỏ, không ảnh hưởng gì đến địa vị chức quan của ông cả. Nhưng mà ở đây ĐGT lại đích thân đến khuyên nhủ thì lại khác, nên nó mới khiến người ta cảm phục, Nó thể hiện ở 3 phương diện: 1, kẻ trên bỏ qua kẻ dưới thì bình thường, nhưng kẻ trên lại thấy chuyện năm xưa giờ là chuyện nhỏ, ko đáng để anh ta từ quan (Công t.ư phân minh). 2 là ông ĐGT lấy thân phận bình thường đi khuyên nhủ (ngang hàng) chứ ko phải là ở vị thế kẻ trên. 3. Nhớ gương người xưa mà làm theo (Cái này là khó nhất, ít người làm đc).
 

trongkimtrn

Phàm Nhân
Dịch Giả Trường Sinh
Ngọc
1.450,86
Tu vi
0,00
Khoan dung với người là tạo phúc cho mình

Sở Trang Vương là một trong ngũ bá của thời Xuân Thu, có nhiều câu chuyện nổi tiếng về cuộc đời ông - một người quân chủ biến đổi từ kẻ ăn chơi truỵ lạc đến một vị đại bá chủ một thời đại. Trong đó có một câu chuyện về lòng khoan thứ của ông rất đáng để suy ngẫm. Chuyện kể như sau:

Sở Trang vương dẹp phản loạn xong, sai bày tiệc rượu thết đãi các quan. Mặt trời khuất bóng, tiệc vẫn dở dang, Trang vương sai thắp nến uống tiếp, lại gọi thiếp yêu là Hứa Cơ ra cho đại thần chúc rượu. Chợt có cơn gió làm tắt hết nến, tướng của Trang vương là Tưởng Hùng thừa cơ kéo áo của Hứa Cơ trêu cợt. Hứa Cơ chụp giật được dải mũ, rồi tâu: "Có kẻ trêu ghẹo thiếp. Thiếp giật được dải mũ. Xin cho thắp đèn ngay để xét. Kẻ nào bị đứt dải mũ thì chính là kẻ đã vô lễ làm càn".

Trang Vương nghĩ: "Cho người ta uống rượu, để say đến quên cả lễ phép, lại vì câu chuyện đàn bà làm sỉ nhục người ta, thì lòng nào nỡ thế". Bèn lập tức ra lệnh: "Ai uống rượu với quả nhân hôm nay mà không say đến giật đứt dải mũ là chưa thật vui".

Các quan theo lệnh, đều giật đứt dải mũ. Khi đèn nến thắp lên thì không còn phân biệt được ai là người phạm tội. Nhờ vậy mà suốt buổi tiệc được vui vầy. Hai năm sau, nước Sở đánh nước Tấn, mà trận nào cũng có viên quan võ trẻ tuổi liều sống chết chiến đấu ở bên cạnh nhà vua. Nhờ vậy mà quân Sở thắng. Trang vương lấy làm lạ, cho đòi viên quan ấy đến hỏi: "Quả nhân đãi nhà ngươi cũng như các quan khác. Cớ sao nhà người hết lòng giúp Quả nhân khác người như thế?". Viên quan tâu: "Thần rắp tâm muốn đem thân mệnh để hiến nhà vua đã lâu. Mãi đến ngày nay mới gặp dịp báo đền ơn nghĩa, thật là may cho thần lắm. Thần tên là Tưởng Hùng, chính là người đã bi cung phi giật đứt dải mũ ngày xưa".

Sở Trang Vương khoan dung với người, rồi người lại báo ơn ông. Lẽ nhân quả chẳng phải là như vậy đó sao.
 
Last edited:

Những đạo hữu đang tham gia đàm luận

Top