- Ngọc
- 223.097,84
- Tu vi
- 92,00
Vòng Tràng Sinh Phổ Thông của Ngũ Hành
Vòng Tràng Sinh là một chu kỳ tuần hoàn của Ngũ Hành. Mỗi hành như Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ đều có một quá trình Sinh Ra, Dậy Thì, Trưởng Thành, Làm Việc, Đạt Đến Đỉnh Cao, Chết Đi....tất cả là 12 giai đoạn tương ứng với 12 vị trí trên cái Bảng Kẻ.
Ý nghĩa của Vòng Tràng Sinh cực kỳ quan trọng trong tất cả các khoa chiêm bốc lý số Phương Đông. Ví dụ 2 hành khắc nhau, muốn biết Hành đi khắc người ta có Khắc nổi hay không hay bị người ta khắc ngược lại thì phải xem Sức Lực của mỗi hành ra sao tại mỗi vị trí trên cái Bảng Kẻ (Đúng ra là tại mỗi Địa Chi, nhưng vì dùng Bảng Kẻ làm phương tiện nên mượn Bảng Kẻ để trình bày cho dễ hiểu).
Chu Kỳ của một vòng Tràng Sinh có 12 giai đoạn và ý nghĩa như sau:
1-Tràng Sinh: Vật chất mới sinh ra
2-Mộc Dục: Vật chất dậy thì
3-Quan Đới: Vật chất trưởng thành
4-Lâm Quan: Vật chất ra làm việc, kiếm tiền mưu sinh
5-Đế Vượng: Vật chất đạt đến đỉnh cao danh vọng
6-Suy: Vật chất già đi, sức khỏe bắt đầu suy yếu khi trái gió trở trời
7-Bệnh: Vật chất bệnh, nằm một đống thuốc thang
8-Tử: Vật chất chết đi
9-Mộ: Vật chất về với đất, nhưng vẫn hiện hồn về giúp con cháu
10-Tuyệt: Hài cốt của vật chất tan rã hết thành tro bụi
11-Thai: Vật chất đi đầu thai và được phôi thai lại
12-Dưỡng: Vật chất được nuôi dưỡng 9 tháng 10 ngày trong bụng mẹ
Các bạn bắt buộc phải thuộc lòng 12 giai đoạn này của Vòng Tràng Sinh:
Tràng Sinh, Mộc Dục, Quan Đới, Lâm Quan, Đế Vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai, Dưỡng.
Ứng Dụng của Vòng Tràng Sinh
Có nhiều loại vòng Tràng Sinh tùy theo ứng dụng của mỗi môn học. (Dưới đây là phần giới thiệu ngắn về ứng dụng của Vòng Tràng Sinh cho các môn, các bạn đọc cho biết sơ qua thôi)
-Vòng Tràng Sinh của Môn Tử Vi di chuyển 2 chiều thuận nghịch theo âm dương, và khởi tại (Xuất phát tại) Tứ Sinh.
-Vòng Tràng Sinh của Môn Tử Bình thì tính theo Thiên Can và cũng di chuyển thuận nghịch theo âm dương nhưng khởi tại vị trí Tử của nhau
-Vòng Tràng Sinh của Môn Bói Dịch thì chỉ có một chiều thuận và khởi tại Tứ Sinh. Trong 12 giai đoạn của vòng Tràng Sinh, môn Bói Dịch chỉ dùng 4 giai đọan: Tràng Sinh, Đế Vượng, Mộ và Tuyệt, gọi tắt là Sinh, Vượng, Mộ, Tuyệt.
-Vòng Tràng Sinh của môn Phong Thủy thì chỉ có 4 hành và cũng di chuyển thuận nghịch theo âm dương, nhưng khởi tại Tứ Sinh và Tứ Chính.
Cách Tính Vòng Tràng Sinh Căn Bản Nhất
Các bạn thấy tùy theo mỗi môn mà Vòng Tràng Sinh có cách tính khác nhau, nên rất phức tạp, trình bày ra hết thì sẽ làm các bạn lọan.
Cho nên CT chỉ trình bày Vòng Tràng Sinh đơn giản nhất là vòng Tràng Sinh Dương. Vòng Tràng Sinh Dương này giống nhau ở tất cả các môn.
Tại sao chia làm Tràng Sinh Dương và Tràng Sinh Âm?
Mỗi hành đều có tính âm hoặc dương, nên nếu là âm thì Vòng Tràng Sinh sẽ đi theo chiều Nghịch, nếu là dương thì vòng Tràng Sinh sẽ đi theo chiều Thuận chiều kim đồng hồ.
Ví dụ: Dần và Mão đều là hành Mộc, nhưng Dần là dương mộc nên vòng Tràng Sinh của Dần sẽ đi theo chiều thuận chiều kim đồng hồ, còn Mão là âm mộc thì sẽ đi ngược chiều kim đồng hồ.
Tuy nhiên vì vòng Tràng Sinh Âm rất là rắc rối, hầu hết các môn đều khác nhau ở Vòng Tràng Sinh Âm, mà mục tiêu của w07 là trình bày cái đơn giản nhất, kiến thức nền tảng nhất để các bạn có cơ sở tự học nên w07 chỉ trình bày vòng Tràng Sinh Dương.
Môn Bói Dịch chỉ có Vòng Tràng Sinh Dương không có Tràng Sinh Âm, nên phần này các bạn có thể ứng dụng 100% trong môn Bói Dịch
Vòng Tràng Sinh Dương này cũng ứng dụng để tính Tràng Sinh Dương trong Tử Vi và Tử Bình (Đối với Tử Bình thì trừ hành Thổ).
Có 3 vấn đề quan trọng nhất để nắm Vòng Tràng Sinh:
1-Bắt buộc phải thuộc tên gọi, ý nghĩa và thứ tự của 12 giai đoạn
2-Bắt buộc phải nhớ vị trí xuất phát của mỗi Vòng Tràng Sinh khi căn cứ vào ngũ hành
3-Tính Âm Dương của Vòng Tràng Sinh. Nếu vòng đó là Dương thì khởi theo chiều Thuận chiều kim đồng hồ, nếu là Âm thì ngược lại.
Vòng Tràng Sinh của hành Kim tính Dương (Dương Kim)
Xuất phát tại cung Tỵ đi theo chiều Thuận
Tràng Sinh tại Tỵ (Vị trí Sinh của Tam Hợp Kim Cục)
Mộc Dục tại Ngọ
Quan Đới tại Mùi
Lâm Quan tại Thân
Đế Vượng tại Dậu (Vị trí Chính của Tam Hợp Kim Cục)
Suy tại Tuất
Bệnh tại Hợi
Tử tại Tí
Mộ tại Sữu (Vị trí Mộ của Tam Hợp Kim Cục)
Tuyệt tại Dần
Thai tại Mão
Dưỡng tại Thìn
Vòng Tràng Sinh của hành Dương Thủy
Xuất phát tại cung Thân đi theo chiều Thuận
Tràng Sinh tại Thân (Vị trí Sinh của Tam Hợp Thủy Cục)
Mộc Dục tại Mão
Quan Đới tại Tuất
Lâm Quan tại Hợi
Đế Vượng tại Tí (Vị trí Chính của Tam Hợp Thủy Cục)
Suy tại Sữu
Bệnh tại Dần
Tử tại Mão
Mộ tại Thìn (Vị trí Mộ của Tam Hợp Thủy Cục)
Tuyệt tại Tỵ
Thai tại Ngọ
Dữơng tại Mùi.
Vòng Tràng Sinh của hành Dương Thổ
Đi giống y như hành Dương Thủy
Vòng Tràng Sinh của hành Dương Hỏa
Xuất phát tại Dần, đi theo chiều Thuận
Tràng Sinh tại Dần (Vị trí Sinh của Tam Hợp Cục Hỏa)
Mộc Dục tại Mão
Quan Đới tại Thìn
Lâm Quan tại Tỵ
Đế Vựơng tại Ngọ (Vị trí Chính của Tam Hợp Cục Hỏa)
Suy tại Mùi
Bệnh tại Thân
Tử tại Dậu
Mộ tại Tuất (Vị trí Mộ của Tam Hợp Cục Hỏa)
Tuyệt tại Hợi
Thai tại Tí
Dưỡng tại Sữu
Vòng Tràng Sinh của hành Dương Mộc
Xúât phát tại Hợi, đi theo chiều Thuận
Tràng Sinh tại Hợi (Vị trí Sinh của Tam Hợp Cục Mộc)
Mộc Dục tại Tý
Quan Đới tại Sữu
Lâm Quan tại Dần
Đế Vượng tại Mão (Vị trí Chính của Tam Hợp Cục Mộc)
Suy tại Thìn
Bệnh tại Tỵ
Tử tại Ngọ
Mộ tại Mùi (Vị trí Mộ của Tam Hợp Cục Mộc)
Tuyệt tại Thân
Thai tại Dậu
Dữơng tại Tuất
Tính Chất
1-Một hành gọi là có khí lực khi nó ở vào các vị trí: Tràng Sinh, (1) Quan Đới, Lâm Quan, Đế Vượng, Suy và Mộ. Ở vào những vị trí này, nó có thể đi Sinh cho hành khác được.
2-Nhưng một hành chỉ có sức lực để đi khắc các hành khác khi nó ở vào các vị trí Tràng Sinh, Quan Đới, Lâm Quan, Đế Vượng
3-Vị trí Tràng Sinh tuy không bằng vị trí Đế Vượng về sức lực nhưng tốt hơn Đế Vượng ở tính lâu bền, dai dẳng
4-Vị trí Đế Vượng tuy là vị trí mạnh Nhất vòng Tràng Sinh nhưng không lâu bền vì sau thời kỳ Đế Vượng là thời kỳ Suy. Bạo phát thì ắt Bạo Tàn. Vị trí Đế Vượng cũng là vị trí có nhiều hung hiểm vì "Cây to thì gió càng to".
5-Vị trí Lâm Quan là vị trí Tốt nhất của vòng Tràng Sinh, nó phát ra tinh túy của hành đó. Và vì sức lực của nó mạnh mẽ chỉ thua Đế Vựơng nhưng nó không hung hiểm và bạo phát bạo tàn như vị trí Đế Vượng.
6-Vị trí Mộc Dục tuy có sức lực hơn vị trí Tràng Sinh nhưng không phải là vị trí tốt, nó còn được gọi là Bại Địa. Ở thời Mộc Dục như mới dậy thì, thể chất chưa ổn định lại dễ bị ngoại cảnh lôi cuốn, nhất là về tình ái. Lúc trẻ mà tiết dục quá độ thì khó thọ.
7-Vị trí Mộ tuy ở vào thời không có sức lực nhưng lại là một vị trí tinh hoa kết tụ chờ chuyển hóa kiếp sau nên cũng là một vị trí không tệ. Riêng trong khoa Bói Dịch thì vị trí Mộ còn có nghĩa là giam hãm, tù túng, vô dụng. Tính chất của Mộ là tính ẩn tàng.
8-Vị trí Quan Đới là vị trí khá
9-Vị trí Suy và Bệnh là vị trí Kém, nhưng Suy thì khá hơn Bệnh. Vì tuy xuống sức nhưng vẫn còn khá hơn nằm một chỗ
10-Vị trí Tử và Tuyệt là vị trí xấu nhất
11-Vị trí Thai và Dưỡng là vị trí không có ý nghĩa gì cả như là bào thai trong bụng mẹ vậy. Là vị trí Chưa có Hình Hài và Chờ để được Sinh ra.
12-Trong môn Bói Dịch, chỉ dùng 4 vị trí để tốt hay xấu là Tràng Sinh, Đế Vượng, Mộ và Tuyệt. Những vị trí còn lại theo lời nhà Nghiên Cứu Thực Nghiệm về Qủe Dịch là Dã Hạc thì không thấy ứng nghiệm gì trong suốt 40 năm thí nghiệm của ông.
Vòng Tràng Sinh là một chu kỳ tuần hoàn của Ngũ Hành. Mỗi hành như Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ đều có một quá trình Sinh Ra, Dậy Thì, Trưởng Thành, Làm Việc, Đạt Đến Đỉnh Cao, Chết Đi....tất cả là 12 giai đoạn tương ứng với 12 vị trí trên cái Bảng Kẻ.
Ý nghĩa của Vòng Tràng Sinh cực kỳ quan trọng trong tất cả các khoa chiêm bốc lý số Phương Đông. Ví dụ 2 hành khắc nhau, muốn biết Hành đi khắc người ta có Khắc nổi hay không hay bị người ta khắc ngược lại thì phải xem Sức Lực của mỗi hành ra sao tại mỗi vị trí trên cái Bảng Kẻ (Đúng ra là tại mỗi Địa Chi, nhưng vì dùng Bảng Kẻ làm phương tiện nên mượn Bảng Kẻ để trình bày cho dễ hiểu).
Chu Kỳ của một vòng Tràng Sinh có 12 giai đoạn và ý nghĩa như sau:
1-Tràng Sinh: Vật chất mới sinh ra
2-Mộc Dục: Vật chất dậy thì
3-Quan Đới: Vật chất trưởng thành
4-Lâm Quan: Vật chất ra làm việc, kiếm tiền mưu sinh
5-Đế Vượng: Vật chất đạt đến đỉnh cao danh vọng
6-Suy: Vật chất già đi, sức khỏe bắt đầu suy yếu khi trái gió trở trời
7-Bệnh: Vật chất bệnh, nằm một đống thuốc thang
8-Tử: Vật chất chết đi
9-Mộ: Vật chất về với đất, nhưng vẫn hiện hồn về giúp con cháu
10-Tuyệt: Hài cốt của vật chất tan rã hết thành tro bụi
11-Thai: Vật chất đi đầu thai và được phôi thai lại
12-Dưỡng: Vật chất được nuôi dưỡng 9 tháng 10 ngày trong bụng mẹ
Các bạn bắt buộc phải thuộc lòng 12 giai đoạn này của Vòng Tràng Sinh:
Tràng Sinh, Mộc Dục, Quan Đới, Lâm Quan, Đế Vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai, Dưỡng.
Ứng Dụng của Vòng Tràng Sinh
Có nhiều loại vòng Tràng Sinh tùy theo ứng dụng của mỗi môn học. (Dưới đây là phần giới thiệu ngắn về ứng dụng của Vòng Tràng Sinh cho các môn, các bạn đọc cho biết sơ qua thôi)
-Vòng Tràng Sinh của Môn Tử Vi di chuyển 2 chiều thuận nghịch theo âm dương, và khởi tại (Xuất phát tại) Tứ Sinh.
-Vòng Tràng Sinh của Môn Tử Bình thì tính theo Thiên Can và cũng di chuyển thuận nghịch theo âm dương nhưng khởi tại vị trí Tử của nhau
-Vòng Tràng Sinh của Môn Bói Dịch thì chỉ có một chiều thuận và khởi tại Tứ Sinh. Trong 12 giai đoạn của vòng Tràng Sinh, môn Bói Dịch chỉ dùng 4 giai đọan: Tràng Sinh, Đế Vượng, Mộ và Tuyệt, gọi tắt là Sinh, Vượng, Mộ, Tuyệt.
-Vòng Tràng Sinh của môn Phong Thủy thì chỉ có 4 hành và cũng di chuyển thuận nghịch theo âm dương, nhưng khởi tại Tứ Sinh và Tứ Chính.
Cách Tính Vòng Tràng Sinh Căn Bản Nhất
Các bạn thấy tùy theo mỗi môn mà Vòng Tràng Sinh có cách tính khác nhau, nên rất phức tạp, trình bày ra hết thì sẽ làm các bạn lọan.
Cho nên CT chỉ trình bày Vòng Tràng Sinh đơn giản nhất là vòng Tràng Sinh Dương. Vòng Tràng Sinh Dương này giống nhau ở tất cả các môn.
Tại sao chia làm Tràng Sinh Dương và Tràng Sinh Âm?
Mỗi hành đều có tính âm hoặc dương, nên nếu là âm thì Vòng Tràng Sinh sẽ đi theo chiều Nghịch, nếu là dương thì vòng Tràng Sinh sẽ đi theo chiều Thuận chiều kim đồng hồ.
Ví dụ: Dần và Mão đều là hành Mộc, nhưng Dần là dương mộc nên vòng Tràng Sinh của Dần sẽ đi theo chiều thuận chiều kim đồng hồ, còn Mão là âm mộc thì sẽ đi ngược chiều kim đồng hồ.
Tuy nhiên vì vòng Tràng Sinh Âm rất là rắc rối, hầu hết các môn đều khác nhau ở Vòng Tràng Sinh Âm, mà mục tiêu của w07 là trình bày cái đơn giản nhất, kiến thức nền tảng nhất để các bạn có cơ sở tự học nên w07 chỉ trình bày vòng Tràng Sinh Dương.
Môn Bói Dịch chỉ có Vòng Tràng Sinh Dương không có Tràng Sinh Âm, nên phần này các bạn có thể ứng dụng 100% trong môn Bói Dịch
Vòng Tràng Sinh Dương này cũng ứng dụng để tính Tràng Sinh Dương trong Tử Vi và Tử Bình (Đối với Tử Bình thì trừ hành Thổ).
Có 3 vấn đề quan trọng nhất để nắm Vòng Tràng Sinh:
1-Bắt buộc phải thuộc tên gọi, ý nghĩa và thứ tự của 12 giai đoạn
2-Bắt buộc phải nhớ vị trí xuất phát của mỗi Vòng Tràng Sinh khi căn cứ vào ngũ hành
3-Tính Âm Dương của Vòng Tràng Sinh. Nếu vòng đó là Dương thì khởi theo chiều Thuận chiều kim đồng hồ, nếu là Âm thì ngược lại.
Vòng Tràng Sinh của hành Kim tính Dương (Dương Kim)
Xuất phát tại cung Tỵ đi theo chiều Thuận
Tràng Sinh tại Tỵ (Vị trí Sinh của Tam Hợp Kim Cục)
Mộc Dục tại Ngọ
Quan Đới tại Mùi
Lâm Quan tại Thân
Đế Vượng tại Dậu (Vị trí Chính của Tam Hợp Kim Cục)
Suy tại Tuất
Bệnh tại Hợi
Tử tại Tí
Mộ tại Sữu (Vị trí Mộ của Tam Hợp Kim Cục)
Tuyệt tại Dần
Thai tại Mão
Dưỡng tại Thìn
Vòng Tràng Sinh của hành Dương Thủy
Xuất phát tại cung Thân đi theo chiều Thuận
Tràng Sinh tại Thân (Vị trí Sinh của Tam Hợp Thủy Cục)
Mộc Dục tại Mão
Quan Đới tại Tuất
Lâm Quan tại Hợi
Đế Vượng tại Tí (Vị trí Chính của Tam Hợp Thủy Cục)
Suy tại Sữu
Bệnh tại Dần
Tử tại Mão
Mộ tại Thìn (Vị trí Mộ của Tam Hợp Thủy Cục)
Tuyệt tại Tỵ
Thai tại Ngọ
Dữơng tại Mùi.
Vòng Tràng Sinh của hành Dương Thổ
Đi giống y như hành Dương Thủy
Vòng Tràng Sinh của hành Dương Hỏa
Xuất phát tại Dần, đi theo chiều Thuận
Tràng Sinh tại Dần (Vị trí Sinh của Tam Hợp Cục Hỏa)
Mộc Dục tại Mão
Quan Đới tại Thìn
Lâm Quan tại Tỵ
Đế Vựơng tại Ngọ (Vị trí Chính của Tam Hợp Cục Hỏa)
Suy tại Mùi
Bệnh tại Thân
Tử tại Dậu
Mộ tại Tuất (Vị trí Mộ của Tam Hợp Cục Hỏa)
Tuyệt tại Hợi
Thai tại Tí
Dưỡng tại Sữu
Vòng Tràng Sinh của hành Dương Mộc
Xúât phát tại Hợi, đi theo chiều Thuận
Tràng Sinh tại Hợi (Vị trí Sinh của Tam Hợp Cục Mộc)
Mộc Dục tại Tý
Quan Đới tại Sữu
Lâm Quan tại Dần
Đế Vượng tại Mão (Vị trí Chính của Tam Hợp Cục Mộc)
Suy tại Thìn
Bệnh tại Tỵ
Tử tại Ngọ
Mộ tại Mùi (Vị trí Mộ của Tam Hợp Cục Mộc)
Tuyệt tại Thân
Thai tại Dậu
Dữơng tại Tuất
Tính Chất
1-Một hành gọi là có khí lực khi nó ở vào các vị trí: Tràng Sinh, (1) Quan Đới, Lâm Quan, Đế Vượng, Suy và Mộ. Ở vào những vị trí này, nó có thể đi Sinh cho hành khác được.
2-Nhưng một hành chỉ có sức lực để đi khắc các hành khác khi nó ở vào các vị trí Tràng Sinh, Quan Đới, Lâm Quan, Đế Vượng
3-Vị trí Tràng Sinh tuy không bằng vị trí Đế Vượng về sức lực nhưng tốt hơn Đế Vượng ở tính lâu bền, dai dẳng
4-Vị trí Đế Vượng tuy là vị trí mạnh Nhất vòng Tràng Sinh nhưng không lâu bền vì sau thời kỳ Đế Vượng là thời kỳ Suy. Bạo phát thì ắt Bạo Tàn. Vị trí Đế Vượng cũng là vị trí có nhiều hung hiểm vì "Cây to thì gió càng to".
5-Vị trí Lâm Quan là vị trí Tốt nhất của vòng Tràng Sinh, nó phát ra tinh túy của hành đó. Và vì sức lực của nó mạnh mẽ chỉ thua Đế Vựơng nhưng nó không hung hiểm và bạo phát bạo tàn như vị trí Đế Vượng.
6-Vị trí Mộc Dục tuy có sức lực hơn vị trí Tràng Sinh nhưng không phải là vị trí tốt, nó còn được gọi là Bại Địa. Ở thời Mộc Dục như mới dậy thì, thể chất chưa ổn định lại dễ bị ngoại cảnh lôi cuốn, nhất là về tình ái. Lúc trẻ mà tiết dục quá độ thì khó thọ.
7-Vị trí Mộ tuy ở vào thời không có sức lực nhưng lại là một vị trí tinh hoa kết tụ chờ chuyển hóa kiếp sau nên cũng là một vị trí không tệ. Riêng trong khoa Bói Dịch thì vị trí Mộ còn có nghĩa là giam hãm, tù túng, vô dụng. Tính chất của Mộ là tính ẩn tàng.
8-Vị trí Quan Đới là vị trí khá
9-Vị trí Suy và Bệnh là vị trí Kém, nhưng Suy thì khá hơn Bệnh. Vì tuy xuống sức nhưng vẫn còn khá hơn nằm một chỗ
10-Vị trí Tử và Tuyệt là vị trí xấu nhất
11-Vị trí Thai và Dưỡng là vị trí không có ý nghĩa gì cả như là bào thai trong bụng mẹ vậy. Là vị trí Chưa có Hình Hài và Chờ để được Sinh ra.
12-Trong môn Bói Dịch, chỉ dùng 4 vị trí để tốt hay xấu là Tràng Sinh, Đế Vượng, Mộ và Tuyệt. Những vị trí còn lại theo lời nhà Nghiên Cứu Thực Nghiệm về Qủe Dịch là Dã Hạc thì không thấy ứng nghiệm gì trong suốt 40 năm thí nghiệm của ông.









