Chương 2: Tên tôi là Combray
Đinh Mộ thừa nhận, lúc tỉnh lại, khung cảnh đầu tiên lọt vào mắt quả thật đã khiến gã hoảng hồn!
Dưới lưng là tấm ván thuyền vừa cứng ngắc, vừa ẩm ướt, bốc lên mùi tanh nồng của cá; còn phía trên đầu, ba gương mặt người châu Âu cúi xuống — nhìn qua thì bất kể kiểu tóc hay cách ăn mặc cũng đều kỳ dị, trộn lẫn giữa cổ điển, hoang dã và có phần dị hợm kiểu hậu hiện đại “Sha-ma-te”.
(chú thích: Sha-ma-te: là phong cách nổi loạn màu mè, gây sốc của công nhân trẻ Trung Quốc vào khoảng những năm 2008 đến năm 2015, chủ yếu là của giới trẻ nông thôn di cư làm công nhân nhà máy, với mục đích khẳng định sự tồn tại của họ khi chịu sự coi thường của xã hội. Kiểu trào lưu này từng bị ghét nhất ở Trung Quốc, cộng đồng online bị xóa sổ hàng loạt.)
Càng giật mình hơn là khi mở lời, hắn chợt nhận ra âm thanh bản thân vừa thốt ra kia hoàn toàn không phải là giọng nói quen thuộc của chính mình. Và dù gã đã cố gắng sửa lại cái giọng nghe vừa lạ lẫm vừa kỳ quặc ấy, nhưng mọi nỗ lực đều công cốc.
Ngoài ra, chỉ cần nhìn vẻ mặt đầy hoang mang của ba gã ăn mặc kỳ quái kia cũng đủ hiểu, dù chính bản thân Đinh Mộ không rõ mình vừa nói gì, thì ba người này chắc chắn cũng chẳng hiểu nổi một chữ.
Sau khi nỗ lực một lần nữa để buộc cổ họng phát ra âm thanh quen thuộc nhưng bất thành, Đinh Mộ chợt nhận ra một điều kỳ lạ: hắn dường như có thể mơ hồ hiểu được cuộc tranh luận đầy ngờ vực giữa ba người kia.
“Lão già, ông chắc nó thật sự là người Hy Lạp chứ? Tôi chưa từng nghe qua thứ tiếng đó… hay là nó vốn dĩ là một tên dị giáo?” — một gã thủ hạ trầm giọng hỏi, tay hắn đang nắm chặt một cây đinh ba có móc ngược nơi đầu nhọn — thứ vốn dùng để đối phó với cá lớn ngoài khơi, nhưng lúc này, hắn chẳng ngại gì chuyện thử vài nhát vào thằng nhóc kỳ lạ kia.
Lời của gã thủ hạ khiến Giovanni cảm thấy quyền uy của mình bị thách thức, việc này theo ông, còn nghiêm trọng hơn cả chuyện liệu thằng nhóc kia có phải tín đồ ngoại giáo hay không.
“Như vậy là không được!”
Giovanni lẩm bẩm trong lòng. Ông tuyệt đối không thể để đám quê mùa này nghĩ rằng một người từng trải như “lão Giovanni” lại là một thằng ngốc!
“Nó là người Hy Lạp!” — Giovanni hét lớn, giọng điệu bực tức.
Sau đó, ông xô gã thủ hạ sang một bên rồi gầm lên với Đinh Mộ: “Này thằng nhóc! Mày từ đâu đến? Khai mau! Nếu không, tao sẽ ném mày trở lại biển đấy!
Đinh Mộ sững sờ nhìn vẻ mặt hung dữ của Giovanni. Hắn không nhớ nổi chuyện gì đã xảy ra sau khi ngã xuống nước. Lẽ nào… gã xui xẻo rơi vào tay bọn mafia khét tiếng xứ Sicily rồi sao?
Hắn cố mở miệng giải thích, nhưng thứ âm thanh phát ra vẫn kỳ quặc đến nỗi ngay cả bản thân gã cũng chẳng nghe hiểu nổi.
“Này, thằng nhóc Hy Lạp, đừng có mà dùng mấy cái lời vớ vẩn chẳng ai hiểu nổi đó để lừa tao, tao biết mày hiểu rõ tao đang nói cái gì đấy!”
Giovanni có chút phát cáu, muốn giơ tay tát vào mặt Đinh Mộ, nhưng bị thằng nhóc giơ tay ra đỡ theo phản xạ .
Sau đó, lão ta thấy thằng bé kỳ lạ này tự nhiên bất động tại chỗ như thể bị người niệm chú, nhìn chằm chằm không chớp mắt vào đôi tay của nó, vẻ mặt hoảng hốt như thể nhìn thấy ma.
“Đây là chuyện gì vậy?” Đinh Mộ với vẻ khó tin nhìn chằm chằm đôi tay xa lạ trước mắt, hắn dám thề chúng tuyệt đối không phải là của mình, đồng thời gã chợt nhận ra những lời vừa bật ra trong cơn hoảng loạn lại là một thứ ngôn ngữ mà trước nay hắn chưa từng nói bao giờ.
Thế nhưng lần này, Giovanni lại nghe rõ mồn một từng lời của đứa bé kỳ dị ấy. Đúng như lão đã đoán, tuy giọng điệu vẫn còn ngọng, nhưng quả thật thằng nhóc đang nói tiếng Hy Lạp.
Đinh Mộ vẫn còn ôm ấp ảo tưởng rằng tất cả chỉ là ảo giác do việc rơi xuống nước gây ra, cho đến lúc gã đưa tay chạm vào má mình. Hắn rất nhanh sáng tỏ rằng mọi thứ trước mắt là sự thực.
Sờ lên hốc mắt hõm sâu rõ rệt, sống mũi cao thẳng, và khi ngón tay gã chạm đến một lọn tóc đỏ rủ từ đỉnh đầu xuống trán, Đinh Mộ hoàn toàn chắc chắn rằng đây tuyệt đối không phải cơ thể của mình.
Đinh Mộ tuyệt vọng ngẩng đầu, nhìn chăm chăm trước mắt ba gã “Sha-ma-te” vẫn đang bàn tán về hắn từ đầu đến chân, miệng mấp máy, nhưng chẳng nói lên lời, sau đó đầu hắn nghiêng sang một bên, “bộp” một tiếng, đổ gục trên ván thuyền.
Chứng kiến Đinh Mộ đột nhiên ngất đi, ba người Giovanni không khỏi có chút nhìn nhau lúng túng, tuy vậy Giovanni vẫn là dặn dò hai thuyền viên khiêng Đinh Mộ ra góc, và đắp cho cậu một tấm mền cũ rách.
"Đúng thật không may, chẳng lẽ đây là phản hồi của Thượng Đế khi ta hướng ngài cầu nguyện trước lúc ra khơi?" Giovanni lầm bầm tức giận.
Loay hoay một hồi như vầy, kế hoạch tranh thủ lúc bão vừa tan thả mẻ lưới đầu tiên đã đổ bể, nhìn thằng nhóc cuộn tròn co rúm thành một cục ở trong góc, Giovanni cảm thấy vụ “thu hoạch” này đúng là cực kỳ châm chọc.
"Hai đứa lười bọn bây mau chóng thả lưới, thuế tithes của chúng ta vẫn chưa gom đủ đâu”
(chú thích: thuế thập phân-tithes, là một loại thuế do Giáo hội Thiên Chúa ở Tây Âu thời trung đại đặt và thu của các tín đồ bằng một phần mười thu nhập hằng năm của họ.)
Giovanni quay đầu về phía hai người cùng thuyền, lớn giọng như thể đang trút giận.
Lão không nhận ra, bên dưới tấm chăn bẩn thỉu đầy mùi cá tanh kia, một đôi mắt màu đen vừa lúc chầm chậm mở, thận trọng và nhanh nhạy quan sát bọn họ.
Calipo là một thị trấn nhỏ bình thường, nằm ven biển tại đông nam bán đảo Sicily. Trong trấn hầu hết cư dân kiếm sống bằng nghề cá, và bến cảng hướng ra vịnh Suledeze là nguồn sống của hầu hết dân cư nơi đây.
Phần dân cư còn lại dựa vào việc trồng nho thuê tại đan viện* trên núi để sống qua ngày.
Cảng Calipo không quá lớn khi so với cửa cảng tại các thành thị khác, miễn cưỡng xem như tầm trung. Tuy nhiên bởi vì có một loại thủy sản địa phương nổi tiếng gọi là tôm Tutu, còn có rượu nho ủ tại đan viện, Calipo ít nhiều cũng có chút tiếng tăm.
(Chú thích: Đan viện (Abbey) là một loại tu viện Thiên Chúa giáo nơi mà cộng đoàn tu sĩ hoặc nữ tu sinh sống dưới sự coi sóc của một Viện trưởng nam/Viện phụ (Abbot) hoặc Viện trưởng nữ/Viện mẫu (Abbess). Đan viện thường bao gồm nhà thờ (nhà thờ tu viện), nơi ở cho các nam tu sĩ, nữ tu, và các công trình phụ trợ khác cung cấp một khu phức hợp các tòa nhà và công trình trên đất, khu đât đai cho các hoạt động tôn giáo, công việc và nhà ở của tu sĩ và nữ tu và người theo đạo Thiên chúa. Đan viện thường có quy mô khá lớn và giữ vai trò quan trọng hơn trong đời sống tôn giáo và xã hội trong lịch sử Công giáo. Các đan viện Kitô giáo đầu tiên được biết đến là các nhóm túp lều được xây dựng gần nơi cư trú của một nhà khổ hạnh nổi tiếng hoặc một người thánh thiện khác. Khái niệm về đan viện đã phát triển trong nhiều thế kỷ từ những cách tu viện ban đầu của những người đàn ông và phụ nữ theo đạo Thiên chúa, nơi họ sống tách biệt với cộng đồng giáo dân xung quanh họ.
Một đan viện có thể là ngôi nhà của một dòng tu kín hoặc có thể mở cửa cho du khách. Một số đan viện cung cấp chỗ ở cho những người đang tìm kiếm nơi tĩnh tâm cũng như nơi trú để chăm sóc người nghèo và người có nhu cầu, nơi trú ẩn cho những người bị ngược đãi hoặc giáo dục cho trẻ em. Có nhiều đan viện nổi tiếng trên khắp lưu vực Địa Trung Hải và Châu Âu. Vào thời kỳ đầu của phong trào tu hành Cơ đốc, những người khổ hạnh sẽ sống tách biệt với xã hội nhưng gần một nhà thờ làng. Tuy nhiên, sự cuồng tín tôn giáo hay sự mộ đạo ngày càng tăng về cách sống của những người khổ hạnh và hoặc sự ngược đãi họ sẽ đẩy họ ra xa cộng đồng của họ hơn và dấn sâu hơn vào sự cô độc, chẵng hạn như những ẩn thất và túp lều của anchorite (những ẩn sĩ tôn giáo) đã được tìm thấy trong sa mạc của Ai Cập. Tu viện Westminster được thành lập vào thế kỷ thứ mười bởi Thánh Dunstan, người đã thành lập một cộng đồng các tu sĩ Benedictine. Tàn tích duy nhất còn lại của tu viện St Dunstan là những mái vòm tròn và những cột trụ lớn chịu lực của hầm mộ và phòng Pyx. Xin lưu ý, thông tin có thể đúng hoặc sai, và chỉ mang tính chất tham khảo.- hết chú thích.)
Tôm Tutu được xem là đặc sản của Calipo, mùa đông hàng năm, một lượng lớn tôm Tutu thường xuôi theo dòng hải lưu, đi qua vùng biển Calipo di cư về phía nam, đây là thời điểm mà người dân Calipo mong chờ nhất.
Người dân sẽ chèo lái các loại lớn lớn nhỏ nhỏ tàu thuyền ra khơi, bất kể có hay không gặp may, ít nhiều đều có thể thu hoạch chút chút.
Điểm tốt của việc trở về đầy ắp thuyền chính là đan viện Calipo sẽ thu mua chỗ tôm Tutu ấy, mặc dù giá thấp đến đáng thương, nhưng lại là một khoản thu nhập không tồi của rất nhiều gia đình tại thời điểm này, đặc biệt là đan viện Calipo đặc cách cho phép dùng tôm Tutu thay thuế tithes của những sản vật khác, điều này khiến người dân Calipo coi tôm Tutu như là món quà Thượng Đế ban tặng cho họ.
Năm nay cũng vậy, khi mà từng chiếc tàu cá cập bến, rất nhiều người đều trông thấy một bóng dáng đứng trên cầu gỗ tại bến cảng, đó là viên chấp sự trong đan viện phụ trách thu nhận thuế tithes.
Theo góc nhìn của người dân Calipo, vị này thân mặc áo dài màu nâu bằng vải thô, cái đầu trọc lóc lắc lư qua lại, vẻ uy nghiêm đó không chút thua kém so với đức Giám mục ở tít Palermo, thủ phủ Sicily xa xôi.
Chấp sự Modilo cố sức co cổ rụt vào bên trong cổ áo choàng vải gai, dù rằng gã vẫn còn trẻ tuổi, nhưng thân thể lại rất kém, đặc biệt là gần đây bị khó ngủ và hay gặp ác mộng, chuyện này khiến tâm tính chấp sự Modilo trở nên nóng nảy.
Cộng thêm thời tiết rét buốt, nếu không phải vì thu thuế tithes, gã sẽ ở lì trong căn phòng nhỏ ấm áp chứ tuyệt nhiên không chạy ra bờ biển.
Lại là một chiếc thuyền cá trông có vẻ đầy ắp, đang lắc lư tiến vào bến cảng. Nhìn vào vạch nước rất sâu kia, trên khuôn mặt tròn trĩnh của Modilo hiếm hoi lộ ra chút nụ cười.
Thu thuế tithes là công việc rất có "chất béo”, vì vớt lên nhiệm vụ ngon ăn này, Modilo đã dốc hết tiền vốn.
Nhưng điều này rất đáng, viên chấp sự tin tưởng chỉ cần thu thuế một mùa, liền có thể thu hồi cả vốn lẫn lãi.
Đôi chân Giovanni vừa bước lên ván gỗ bến cảng đã thấy Modilo đang ngóng về phía lão, nếu như đằng sau không có hai vị thu thuế của nhà thờ đi theo, khuôn mặt tròn trĩnh kia trông vẫn rất hiền hòa dễ gần…
“Thiên Chúa phù hộ, gặp được ngài thật là tuyệt vời, ngài chấp sự”
Giovanni bước qua hôn cây thập giá bằng gỗ trong tay Modilo, sau khi làm lễ cúi chào, mới dè dặt lên tiếng
“Ngài chấp sự, có một việc tôi không biết có nên nói với ngài hay không, ngài biết mà, dân chúng bọn tôi khi gặp rắc rối sẽ tới chỗ trưởng làng, khi cầu nguyện sẽ đến nhà thờ, nhưng chuyện này khiến tôi không biết nên gặp ai, vì vậy muốn xin ngài cho chúng tôi lời khuyên.”
"Chúa phù hộ mỗi người trong chúng ta, có điều gì băn khoăn cứ việc nói với tôi"
Modilo có hơi không hiểu nhìn chăm chăm lão đầu trước mặt, thực ra hắn ta không hề thiện cảm với Giovanni, luôn cho rằng lão già này toàn gây rối, có chút chán ghét.
Giovanni dè dặt cẩn thận kể lại sự việc gặp phải trên biển cho vị chấp sự nghe, lão không biết ngài chấp sự sẽ xử lý thế nào, nhưng dáng vẻ kỳ lạ của đứa trẻ kia khiến lão không yên tâm.
“Lão nói ra chuyện này là đúng đắn”
Vị chấp sự gật gù, khen ngợi Giovanni.
“Lão là một con chiên ngoan đạo, Giovanni, Chúa sẽ phù hộ ông, về phần đứa trẻ kia, ta phải tận mục sở thị (tận mắt chứng kiến), mới quyết định nên xử lý ra sao”
Nhận được sự khen ngợi từ vị chấp sự, Giovanni vô thức dùng ngón tay vân vê ria mép, nhưng chợt nhớ tới dáng vẻ kỳ quái của thằng bé kia, lão lại không kìm nổi bắt đầu lo lắng.
Mong bản thân đừng rước tai họa về.
Giovanni lão đã phiêu bạt bên ngoài quá lâu rồi, những điều từng trải qua cũng không ít, lão so với người dân trong trấn càng biết thế giới ngoài kia tròn méo như nào, càng hiểu rõ hơn kiểu giáo sĩ như Modilo dùng thủ đoạn chiêu trò.
Vì vậy lão hận không thể ngay lập tức ném rắc rối kia cho nhà thờ.
Cứ để các vị tu sĩ quyết định vận mệnh của đứa trẻ kia thôi, Giovanni tự nhủ.
Khi Modilo nhìn thấy “đứa trẻ kỳ quái” kia, Đinh Mộ đang quấn chăn co ro tại góc thuyền, tay ôm bát gỗ, múc từng thìa canh nóng nhét vào miệng.
Modilo để ý rằng, khi nhìn thấy mình, ánh mắt cậu thiếu niên Hy Lạp không hề vui mừng hay hoảng hốt, mà là thất vọng, hay nói đúng hơn, ánh mắt nó mang sự thất vọng khi nhìn mọi thứ xung quanh.
Đinh Mộ thật sự tuyệt vọng, đến thời điểm này hắn mới triệt để hiểu rằng bản thân đã gặp phải chuyện gì.
Trang phục cổ quái, thuyền đánh cá cũ kỹ, đám người nói chuyện bằng thứ ngôn ngữ lạ lẫm cùng thị trấn cảng lạc hậu, quan trọng nhất là cơ thể bản thân hoàn toàn xa lạ này.
Tất cả những thứ này đều chứng minh một điều…
Linh hồn hắn đã xuyên qua thời không!
Khi nghĩ thông điều này, phản ứng đầu tiên của Đinh Mộ, chính là muốn quay trở về cơ thể ruột thịt của mình.
Nhưng hắn rốt cuộc hoàn toàn thất vọng, gã có thể cảm nhận được thân xác này đã hòa làm một với linh hồn bản thân.
Hắn có thể cảm nhận được cơn đói, giá lạnh, sự đau đớn ngay cả khi cần bài tiết.
Chính nó đã khiến gã từ bỏ ý định liều lĩnh tìm chết lần hai, nguyện vọng quay lại cơ thể quen thuộc.
Vừa nghĩa đến việc thằng nhóc xa lạ kia có thể đã hoán đổi thân xác với mình, từ nay tiêu xài tiền của hắn, ở nhà của hắn, ngủ với bạn gái của hắn, Đinh Mộ liền âm thầm cầu nguyện thằng nhóc kia tốt nhất là đã chết triệt để.
Nhưng hiện tại vẫn còn nan đề nghiêm trọng hơn đang bày ra trước mắt gã.
“Nhóc tên là gì?”
Mặc dù bề ngoài người thanh niên này nhìn trạc tuổi với hắn ta, Modilo vẫn tỏ vẻ hỏi kiểu ông cụ non.
“Nếu có thể nghe hiểu, nói cho ta, nhóc theo đạo Thiên chúa không?”
Mình tên là gì?
Gần như mở miệng nói ra, Đinh Mộ kịp thời kìm lại nội dung suýt nữa buột miệng thốt lên.
Khoan bàn đến chuyện người trước mặt, với dáng vẻ giống ông trùm đất cảng, có nghe hiểu hay không, chỉ từ cử chỉ và cách nói chuyện của đám người này liền có thể đoán rằng, nghe xong cái tên đậm mùi dị giáo của hắn, điều xảy ra tiếp theo chắc chắn sẽ chẳng tốt lành tẹo nào.
Lửa thiêu, giá treo cổ, liên tưởng những cực hình khét tiếng thời Trung cổ này, trán Đinh Mộ bắt đầu toát ra mồ hôi, nghĩ tới loại dụng cụ tra tấn nào đó có ác danh bệnh hoạn, một bộ phận giống đực trên cơ thể hắn không khỏi teo lại…
Chỉ là vẫn phải trả lời, trừ phi khả năng nghe hiểu của hắn có vấn đề.
Phải rồi! Gã có thể vờ vịt nghe không hiểu!
Đinh Mộ suy nghĩ xoay chuyển, liền giả vờ nghe không hiểu lời nói của đối phương hòng lấp liếm cho qua chuyện.
Nhưng dường như ông trời cũng cố ý làm khó hắn ta, ngay tại thời khắc này, một người đáng lẽ mười mươi xa lạ như gã, bỗng có cảm giác thân thuộc khó hiểu khi nghe giọng nói đầy kích động đột ngột từ trên bờ truyền tới:
- Đứa trẻ kia đến từ phương Đông à?
Mấy người trên thuyền đồng loạt hướng về bờ, nhìn thấy một người đàn ông có màu da đen sạm, với mái tóc xoăn cùng bộ râu xồm xoàm che gần hết khuôn mặt.
Người nọ nhìn không cao, nhưng vai rộng, mặc áo ba lỗ phơi ra hai tay cơ bắp cuồn cuộn, toàn thân toát lên vẻ rắn rỏi lạ thường.
" Sao thế, cậu quen biết nó à, ông em Gira ?"
Giovanni lớn tiếng hỏi người đàn ông nọ trên bờ. Phải rồi, biết đâu ông em có thể bắt chuyện được với thằng nhóc, bởi mấy người bên mình đang không biết nên nói gì.
Người đàn ông tên Gira sải mấy bước nhảy xuống thuyền, gã trước tiên khẽ cúi chào viên chấp sự, sau đó liền nghiêm túc soi xét Đinh Mộ.
Điều này khiến Đinh Mộ dấy lên chút căng thẳng, hắn tin tưởng ở nơi này sẽ không có người nhận biết bản thân, càng chẳng biết cơ thể đây đang tồn tại một linh hồn không thuộc về thế giới này. Nhưng không hiểu sao bản thân hắn vừa rồi có cảm ứng quen thuộc mơ hồ với giọng nói của người này.
Chỉ là sau khi người đàn ông kia mở lời tiếp, Đinh Mộ bỗng hiểu vì sao bản thân lại có phản ứng thân thuộc kỳ lạ.
Mặc dù giọng điệu ít nhiều có chút đổi thay, nhưng Đinh Mộ có thể khẳng định, cách phát âm kỳ lạ mà người này nói, gã không những nghe hiểu hoàn toàn, thậm chí chất giọng của bản thân hắn cũng giống y đúc người đàn ông này.
Hóa ra, hắn vậy mà gặp được "đồng hương" ở chốn này!
"Nhóc đến từ bờ bên kia Địa Trung Hải à, là đâu vậy, Patmos hay là nơi nào khác"
Mặc dù người đàn ông tận lực làm giọng mình bình tĩnh hơn, nhưng vì quá kích động mà nói năng không còn mạch lạc.
"Ta đến từ Patmos, còn nhóc?"
"Không, không phải Patmos"
Đinh Mộ biết bản thân không thể tiếp tục diễn kịch nữa, dù không biết người đàn ông này căn cứ vào đâu liền phán gã đến từ phương Đông, nhưng may mắn gặp được "đồng hương", liền không thể tuột mất cơ hội này, tuy nhiên hắn vẫn quyết định cẩn trọng chút, mặc dầu chưa rõ người này đã rời khỏi Patmos bao lâu rồi, hắn xác định tìm cho mình một lai lịch khác.
Trong đầu gã lướt qua các địa danh, cân nhắc nơi phù hợp, sau đó đánh đổ ước nói:
“Tôi là…từ đảo Crete mà tới”
“Lạy Chúa tôi, lẽ nào ngay cả đảo Crete cũng đã bị bọn dị giáo chiếm giữ rồi sao?” Trên gương mặt người đàn ông kia lộ ra vẻ sửng sốt, mà lời này khiến người xung quanh chấn động, viên chấp sự vốn im lặng lắng nghe trong chớp mắt mặt tái mét, thân hình loạng choạng, mấy người trên bờ tò mò hóng chuyện cũng bắt đầu la hét hoảng sợ: “Nguy rồi, đảo Crete đã thất thủ rồi, bọn dị giáo sắp đánh sang đây rồi!”
Những người khác cũng bị ảnh hưởng tâm lý, rất nhanh toàn bộ bến cảng rơi vào hỗn loạn!
Đinh Mộ mắt trợn tròn, miệng há hốc nhìn mọi người xung quanh hoảng loạn, không đợi hắn mở lời giải thích, trên bến cảng tiếng chuông đã kêu vang, theo sau từng hồi hò hét náo loạn " Bọn dị giáo tấn công rồi!".
Nỗi sợ hãi như một cơn dịch bệnh lây lan với tốc độ chóng mặt, từ nơi bến cảng vào thẳng thành phố Calipo.
Đối mặt với cơn hỗn loạn bất ngờ ập tới, viên chấp sự Modilo hoàn toàn bỏ quên chuyện tra hỏi lai lịch Đinh Mộ, cũng hoảng loạn gào thét chạy ra ngoài thành. Gã định đi báo tin bọn dị giáo xâm lược cho viện trưởng đan viện. Phía lão Giovanni đã sớm hô hoán mọi người kêu gọi đàn ông trong thành tập hợp. chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu tới hơi thở cuối cùng.
Mặc dù góp phần mang tới tin tức dị giáo sắp tấn công, nhưng lúc này chẳng ai ngó ngàng đến Đinh Mộ, kẻ bất ngờ bị ném qua một bên, lại càng không người quan tâm tới lời giải thích của hắn.
Thế là Đinh Mộ bị bỏ lại bơ vơ nơi bến cảng, cho tới khi vị “đồng hương” kia chợt nhớ ra, quay lại tìm gã.
“Này anh bạn trẻ, ta tên là Gira, nhóc tên là gì?”
Người đàn ông trung niên Gira vẫn còn chút hoảng hốt kích động, nhưng không quên gọi Đinh Mộ chạy vào thành, đồng thời dò xét trang phục kỳ lạ của Đinh Mộ.
“Thật sự là lâu rồi ta không gặp kiểu ăn mặc này, rốt cuộc thì La Mã đã không còn tồn tại, vốn tưởng rằng sẽ không nhìn thấy nó nữa… Đáng tiếc nhóc mày mang đến tin tức xấu, nếu không, với t.ư cách là một vị khách, nhóc rất được chào đón”
Lời nói vô thức của Gira khiến tâm thần Đinh Mộ chấn động, hắn cố gắng giữ nét mặt nhìn tự nhiên chút, nhưng trong lòng dậy sóng vì những thông tin then chốt kia.
Mặc dù vẫn chưa rõ đây là thời đại nào, nhưng thông qua những người mà hắn gặp, kết hợp bố cục cảnh quan của tòa thành này, cùng những thông tin từ người đàn ông trung niên Gira nói ra, Đinh Mộ đã gom đủ manh mối cần thiết.
Viên chấp sự thu thuế thập phân, cơn hoảng loạn trước cuộc xâm lăng của dị giáo, La Mã đã không còn, sự hiểu lầm khi nhắc đến đảo Crete, tất cả những điều trên phần nào làm sáng tỏ thời đại mà gã xuyên tới.
Ở cái thời đại này, đế chế Byzantine thống trị xuyên suốt 1000 năm có lẽ vừa mới sụp đổ, đế quốc Ottoman bắt đầu lộ ra nanh vuốt, đang tràn đầy tham vọng bá chủ, còn châu Âu vừa trải qua những đêm trường trung cổ, cũng sắp sửa bừng lên vẻ đẹp rực rỡ trong buổi bình minh của riêng nàng.
Nghĩ đến những điều này, trong lòng Đinh Mộ không khỏi rung động, hắn chưa từng tưởng tượng rằng bản thân sẽ tận mắt chứng kiến thời đại này, càng không thể tin nổi mình sẽ trở thành một phần trong thế giới này.
“Suýt nữa thì quên, nhóc mày tên là gì?”
Sau khi đã đi được rất xa, Gira chợt nhớ ra câu hỏi lúc trước.
“Tôi ư?”
Đinh Mộ sửng sốt, bối rối không biết đáp ra sao. Bỗng ánh mắt hắn chạm phải mấy chữ cái mờ nhòe nơi gấu áo choàng, và trong chớp mắt, một ý nghĩ lóe lên trong tâm trí gã.
“Alexander…”
Đinh Mộ chậm rãi nói.
“Tên tôi là Alexander Julian Combray.”
“Alexander” — đó là cái tên thêu ở gấu áo choàng. Dù chẳng rõ có phải tên thật của thân xác này hay không, nhưng cũng dùng tạm để đối phó. Còn họ phía sau? Ấy là lấy từ một cuốn sách hắn từng đọc…