Hải Đường nhàn thoại

  • Thread starter Tịch Địa
  • Start date
Status
Not open for further replies.
T

Tịch Địa

Guest
1. Độ Ngư

Phan Túc Cầu vốn là người bạn học cũ. Một hôm không rõ nguyên cớ gì, buồn bực lại nhà mời Hải Đường thị đến tửu lâu uống rượu giải sầu. Biết Hải Đường thị vốn thích cá, bèn đến một quán cá bên sông Nhĩ Hà. Rượu được dăm tuần, Phan đã có chút hứng thú, bảo:

“Phan tôi ăn cá đã nhiều, từ cá chép ở sông Tùng Giang, đến loài hải ngưu ngoài đảo Nam Du đều đã từng ăn qua, duy chưa thấy loài nào lớn bằng cá Côn ở bể bắc mà thôi …” – Nói rồi cười lấy làm thích thú – “Tiên sinh còn nhớ đoạn: “Bắc minh hữu ngư, kỳ danh vi Côn. Côn chi đại bất tri kỷ thiên lý dã …” chứ? Không phải Trang Chu, làm sao thấy loài cá lớn như thế?”

Hải đường thị cũng cười lớn bảo: “Phan tiên sinh quả đọc rộng biết nhiều. Nhưng cứ theo ngu ý của tại hạ, Trang Chu tuy được đời sau coi là bậc minh triết, nhưng kiến thức quả còn hạn hẹp lắm. Âu có lẽ cũng do Trang Chu chưa đến Giao Nam mà thôi. Chứ ở đây, bây giờ vẫn còn loài cá lớn hơn thế.”

Phan ngạc nhiên hỏi: “Lạ thật, chẳng phải chúng ta đang ở Giao Nam đây sao? Loài cá ấy thế nào?”

Hải đường thị lại bảo: “Loài này có tính thích thấy màu đỏ, thích nghe tiếng reo hò. Một vài người thì không bao giờ thấy nó, phải tụ tập hàng triệu người, mới thấy được.”

Lại hỏi: “Vậy nó lớn thế nào?”

Đáp: “Loài này đến vô hình, đi vô ảnh, có lẽ chưa ai đo được nó. Nhưng dám hỏi Phan tiên sinh, đất Giao Nam từ cực bắc đến cực nam là bao nhiêu dặm? Vậy mà nếu dân cả nước này đồng thanh tụ tập trưng vải đỏ, cờ đỏ nhử nó, nó chỉ đớp một miếng là nuốt hết màu đỏ từ nam chí bắc. Lần nó hiện hình gần đây nhất là thượng tuần tháng này đó thôi.
Số là như vầy, đất này người ta thích trò chơi cầu. Tháng chạp năm Kỷ Sửu, người Giao Nam có cho đội cầu thủ sang đất Ai Lao thi đấu. Trận cuối cùng, dân chúng cả nước thi nhau trương cờ đỏ biểu đỏ mà hò reo tán thưởng, thế là nó hiện lên, chỉ đớp một miếng mà tự đất Hà Giang đến nẻo Cà Mau không còn một bóng vải đỏ, cờ đỏ nào nữa.”

Phan sợ run bảo: “Ghê gớm thật! Không hiểu từ đâu mà ra loại cá thế?”

Hải Đường thị lại đáp: “Sách “Lĩnh Nam Chích Quái” là sách cổ của Giao Nam chép lại những truyện kỳ lạ. Trong ấy có chép rằng đức quốc tổ của người Giao Nam là Lạc Long Quân có giết được loài ngư tinh ở Đông Hải. Có lẽ do ngài mới giết con trống mà chưa giết được con mái chăng, nên nó vẫn còn đến nay?
Sách ấy cũng chép, đức Lạc Long Quân khi đi xuống bể, có dặn con dân nước ấy, khi gặp sự tai nạn thì kêu bố ơi, ngài sẽ lên cứu. Thế nhưng đầu tháng chạp vừa rồi, vào giờ ấy, ngày ấy, khi con cá lớn này hoành hành, người Giao Nam lại chỉ kêu mẹ, chứ không kêu bố. Có kẻ hiếu sự đã thống kê rằng số lượng người kêu “mẹ” lớn nhất xưa nay. Mới hay không biết lịch sử, thật tai hại biết chừng nào?”

Lại uống hết tuần rượu, Phan chợt hỏi: “Tiên sinh chưa nói, loài cá ấy gọi là cá gì?”

Hải Đường thị khi ấy đã say gục xuống bàn lảm nhảm: “Độ ngư! Độ ngư! …” Chỉ nhác thấy Phan đứng lên vái dài một vái, rồi sau đó ngủ không biết gì nữa …

(Trích tự "Hải Đường nhàn thoại")



Tân Liêu Trai - Trừ Thảo Truyện (Truyện trừ cỏ)

Khoảng niên hiệu Phú Trọng, chẳng biết có phải do triều chính rối loạn, mà phát sinh ra vô số sự quái dị. Mùa xuân năm Ất Mùi, xứ Bắc phát sinh thứ cỏ độc kỳ lạ, nó mọc tới đâu là tất cả các cây khác đều chết hết, khiến mùa màng thất bát dân tình đói khổ. Giống cỏ ấy lại lan tràn rất nhanh, chẳng mấy chốc mà tới tận kinh đô, khiến triều đình vô cùng sợ hãi. Phải lập hẳn một vệ quân để đối phó với cỏ độc, nhưng càng chặt bỏ, nó lại càng mọc khỏe hơn. Vả chăng nhổ cỏ lại sợ lẫn với lúa, cũng như nói ném chuột sợ vỡ bình, nên chẳng làm được gì. Cuối cùng đến nỗi nhà vua phải xuống chiếu cầu hiền khắp tứ xứ.



https://scontent-sin1-1.'Chủ đề cấm tại BNS''Chủ đề cấm tại BNS'.fbcdn.net/hphotos-xfp1/v/t1.0-9/q81/s720x720/17207_10202437844267782_5944159263207787869_n.jpg?oh=b42e0402585ab68460d2fbdab50e7bbd&oe=5677D88A



Ngoại thành phía đông có tên học trò nghèo là Phương sinh, vốn thường ở nhà đọc sách không màng chuyện thế sự. Một sáng ra trở dậy ra trước thềm thấy có thứ cỏ lạ mọc tới tận thềm lấy làm kinh ngạc, bứt cho thỏ ăn, nó liền chết ngay, thì càng hãi. Tra cứu khắp các sách vở mấy ngày liền mà không biết là giống cỏ gì. Nghe nói phía bắc thành có đền Trấn Vũ thờ đức Huyền Thiên Đế Quân vô cùng linh ứng, bèn ngắt một cây mang tới tận đền thắp hương cầu đảo xin thần minh chỉ dạy cho biết. Tối hôm ấy ăn chay nằm mộng ở đền, đến quá canh ba thiếp đi, chợt mơ thấy có vị đạo sĩ mũ vàng cùng đến trò chuyện. Sinh bèn đem cành cỏ ra hỏi là thứ cỏ gì. Đạo sĩ liền hỏi lại: “Ngươi lấy thứ cỏ này ở đâu?” Sinh đáp: “Ở bên thềm!” Đạo sĩ bèn cười nói: “Đó chính là tên cỏ đấy! Thềm chữ Hán là “Thế”, thứ cỏ này gọi là Thế Thảo – tức cỏ bên thềm vậy!” Sinh gật gù thầm ghi nhớ lấy. Chợt đạo sĩ lại vuốt râu nói: “Lại có sách chép chữ Thế nghĩa là đời, vì thứ cỏ này tập hợp tất cả độc hại của các thứ cỏ khác trên đời lại, nên sách Nhĩ Nhã có chú thích: “Thế Thảo chi độc, tập thế thượng chư thảo chi độc nhi đắc danh.” (Cái độc của Thế Thảo là tập hợp độc hại của tất cả các loại cỏ trê đời, nên có tên ấy). Ngươi khá nhớ cho kỹ!”

Sinh lại hỏi: “Vậy giống cỏ độc này trừ thế nào?”

Đạo sĩ cười nói: “Ta chỉ là người xuất thế, học đạo tu tiên ngâm phong vịnh nguyệt, nào biết chuyện trừ cỏ? Nếu ngươi thích ngâm vịnh thì cùng trò chuyện, chứ nói chuyện trừ cỏ ta không biết đâu!”

Sinh gặng hỏi mãi không được, bèn thôi. Chỉ cùng nhau trò chuyện thơ phú. Hồi lâu đạo sĩ chỉ cái rương bên góc nhà nói: “Trong rương kia là bộ “Toàn Đường Thi”. Tất cả thơ phú của thi gia đời Đường đều được tập hợp trong ấy. Ngươi lấy một cuốn ra chúng ta ngâm vịnh.”

Sinh mở rương, lấy bừa một cuốn, định mở ra. Đạo sĩ bèn ngăn lại, bảo: “Ta có lưỡi chủy thủ đây, ngươi hãy cầm mũi dao, lách vào trang sách. Mũi dao chỉ đúng bài nào thì chúng ta ngâm bài ấy.”

Sinh cho là một cách chơi thú vị, bèn làm theo. Giở ra thì là bài tứ tuyệt của Từ Ngưng, thế này:



Cổ thụ y tà lâm cổ đạo;

Chi bất sinh hoa phúc sinh thảo.

Hành nhân bất kiến thụ thiếu thời,

Thụ kiến hành nhân kỷ phiên lão



(Cổ thụ nghiêng nghiêng bên lối cũ;

Cành chẳng mọc hoa, ruột mọc cỏ.

Hành nhân nào thấy thuở cây non;

Cây thấy hành nhân già mấy độ.)



Ngâm dứt nhìn lên thì chẳng thấy đạo sĩ đâu nữa. Nhìn ra cửa đền chỉ thấy sương mờ man mác, gió động lá rơi, phía làng Thọ Xương tiếng gà sớm đã gáy.

Sinh giật mình tỉnh dậy, nhớ lại bài thơ chép vội vào vạt áo. Nhẩm đi nhẩm lại, chợt giật mình ngộ ra: “Thơ nói cây cổ thụ nghiêng bên đường cũ .. trong ruột sinh ra cỏ …” Lại đưa mũi dao vào. Vậy phải chăng là có cây cổ thụ đẻ ra cỏ ấy, muốn trừ cỏ thì phải tìm cái cây đó mà chặt đi?” Bèn lập tức trở về, chong đèn viết sớ dâng lên triều đình rằng: “Muốn trừ cỏ phải chặt hết các cây cổ thụ nghiêng cong, mối rỗng ruột bên đường cũ ở kinh đô!”

Triều đình y lời theo, bèn cho người kiểm số cây nghiêng cong mối mọt dâng lên. Đám quan lại ở kinh đô nhân dịp ấy cấu kết với bọn gian thương lái gỗ, bèn dâng lên rằng phải chặt đến 6.700 cây. Vì nạn cỏ dại hoành hành quá dữ, nên triều đình cũng phê chuẩn cả. Thế là quan quân ra sức chặt hết các cây cổ thụ trên phố ở kinh kỳ, có những phố trọi không, không còn bóng cây. Nhưng chặt mãi vẫn chưa dứt được nạn cỏ, quan quân lại chặt tiếp. Dân tình vốn coi trọng những cây đại thụ vẫn gắn bó với họ, nhưng vì đại cục, lại chẳng làm được gì đành nuốt nước mắt mà thương những cây bị chém oan. Cuối cùng đến khi nạn cỏ hơi lui thì cũng đã chặt hơn hai ngàn cây rồi. Người dân thương những cây chết oan, từ đó kiêng húy chữ “Cây”, lại gọi chuyện chặt cây là “Chém lũ đẻ ra thảo” (Trảm sinh thảo chi bối) để cây khỏi oán./.
 
Last edited by a moderator:
T

Tịch Địa

Guest
2. An Tri Ngư Muộn (Sao biết cá buồn?) - 安知魚悶

Hải Đường thị cùng Vị Đơn công dạo chơi trên cầu. Thấy đàn cá nhao lên lộn xuống trên mặt nước, Hải Đường thị nói: “Cá đang nhao lên lộn xuống kìa. Cá buồn đó!”

Vị Đơn công bảo: “Ngài không phải là cá, làm sao biết cá buồn?”

Hải đường thị nói: “Ngài không phải là tôi, sao biết tôi không biết …?”

Vị Đơn công lại bảo: “Tôi không phải ngài, nên không thể biết được ngài. Còn ngài không phải cá, ngài cũng hẳn không sao biết được nỗi buồn của cá” - Rồi cười mà tiếp rằng – “Chuyện tranh biện giữa Huệ tử và Trang tử khi xưa, không ngờ hôm nay chúng ta lại nói lại …Ngài chắc sẽ không nói “vì đứng trên cầu này mà biết” chứ?”

Hải Đường thị cười bảo: “Không đâu. Không đâu. Khác chứ … Khi xưa, Huệ tử tranh biện với Trang tử, tôi trộm nghĩ cái lý của Huệ tử chưa chắc đã kém, mà cái lý của Trang tử chưa chắc đã hơn. Còn như nay thì cái lý của tôi hơn hẳn cái lý của ngài đấy!”

Vị Đơn công ngạc nhiên hỏi: “Chỉ khác là, xưa kia Trang Chu bảo cá vui, còn nay ngài bảo cá buồn. Vui với buồn chẳng qua cũng đều là tình cảm của cá mà thôi. Có gì khác nhau đâu, mà ngài dám nói có lý hơn được?”

Hải Đường thị khi ấy đã buồn cười quá không nhịn nổi, ôm cột cầu chỉ dòng sông bảo: “Khác lắm, khác lắm! Ngài nhìn lại xem … Cái khác là, ngày xưa hai thầy Huệ, Trang đứng trên cầu sông Hào, còn nay, tôi với ngài đứng trên cầu sông Thị Vải vậy!”

(Trích “Hải Đường nhàn thoại”)


Lời bàn:

Thiên Trường phủ nhân nói: "Ngài Hải Đường sống bên dòng sông Tô, sao không đứng, bay chi đâu vào tận Thị Vải, ai tai ô hô ,..?"

Hải Đường thị đáp: "Thày nói sai rồi! Thị Vải thì mới còn cá mà buồn, chứ Tô Lịch thì đâu có mống cá nào mà buồn! ....Tại hạ đã đứng chán ở cầu Lủ rồi mới phải bay vào Thị vải đấy ạ!"

Vô Thường cốc chủ lại nói: "Ấy thế mà độ tết này để đưa các vợ chồng nhà Táo lên Thiên Đình dân ta vưỡn cứ nô nức cho Ngài Cá Chép đi theo đường Tô Giang mí cả Nhuệ Giang cơ..."

Hải Đường thị lại bảo: "Tại hạ thấy, người ta sáng suốt thế, tiên sinh còn chê trách điều chi? Xin hỏi tiên sinh, liệu có chỗ nào cho cá chép lên thiên đình nhanh hơn là thả xuống Tô Giang, Nhuệ Giang? Ở đấy có thả ..người xuống cũng lên thiên đình ngay ấy chứ ..."

Bèn cùng cười lớn mà uống cạn tuần rượu.
 
T

Tịch Địa

Guest
3. Áp Tín - 鴨信

Sách “Hải Đường nhàn thoại” chép thế này:
Văn Phong tử chu du Hoa Hạ về nói chuyện với Hải Đường thị rằng: Người Hoa Hạ thường nói đến “tin nhạn” còn về Giao Nam thì từ nơi kinh kỳ đến chốn thôn quê thường chỉ hay nghe người ta nói đến “tin vịt” mà thôi. Mới hay nam bắc cũng có sự khác biệt vậy.

Hải Đường thị nghe xong cả cười bảo: thầy Văn Phong đã đi khắp Trung Nguyên, sao lại nói người phương bắc không có “tin vịt”?
Văn Phong tử giật mình hỏi lại: Quả chưa hề nghe nói! Xin ngài nói rõ hơn xem sao …

Hải Đường thị chỉ bức tranh “Xuân giang vãn cảnh” của nhà sư Huệ Sùng đời Tống bảo: thầy xem kìa, ông Tô Tử Chiêm đề trên tranh rằng: “Xuân giang thuỷ noãn áp tiên tri” thế chẳng phải ông Tô cũng tin vào vịt sao? Vậy là ở đâu cũng có “tin vịt” cả, chứ đâu phân nam bắc?
Bèn cùng cười lớn mà uống cạn tuần rượu …
 
T

Tịch Địa

Guest
Bất Tri Phi Phúc

Hải Đường thị đang ngủ trưa, thì có Tây Qua vốn là cháu đồng tông bảy mươi đời của Tây Thi nước Việt xưa, đến đưa danh thiếp xin vào nói chuyện, liền vội dậy đón tiếp.

Chủ khách thi lễ xong cùng ngồi uống trà, Tây Qua dường có điều chi buồn bã, quay sang hỏi:

“Tại hạ có một việc này, mong ngài tính giúp xem sao. Số là tại hạ phải lòng một bóng hồng nhan, chuyện đang tốt đẹp thì dường nàng lại muốn bỏ tại hạ mà đi … Không biết tại hạ phải làm sao đây?”

Hải Đường thị đưa chén trà bảo: “Ngài hãy ngồi uống nước, tôi xin kể ngài nghe chuyện này …”

Khi nãy lúc ngài vừa tới tôi có đương nằm mơ thấy mình yêu được một người con gái đẹp tuyệt trần và lấy nàng làm vợ. Họ hàng gia tộc đến mừng linh đình, ai cũng bảo tôi thật có phúc lớn. Tôi ngăn lại nói, chưa hẳn là phúc, không nên mừng vội.
Quả nhiên, sau một thời gian, mới biết nàng vốn là đệ tử của phái Nga My, việc võ nghệ quen tay không thể không tập, vì vậy ngày nào cũng lấy tôi ra làm “mộc nhân” để tập võ, khiến nhiều phen tôi phải thương tích đau đớn. Họ hàng lại đến thăm hỏi, chia buồn. Tôi lại bảo: “Bị vợ đánh chưa hẳn đã là không có phúc. Chớ lo …”
Vài năm sau bỗng một hôm quan binh đến vây làng, cho rằng trong làng vốn có đảng giặc, bắt hết bọn trai tráng về phủ đường, tôi cũng trong số đó. Đến phủ đường tất cả đều bị đánh trượng tra khảo, nhưng vốn không biết gì nên chẳng ai có thể nói. Vì vậy mà số bị đánh chết đến quá ba phần. May sao tôi do đã được rèn luyện lâu ngày, nên chịu được cả. Rồi có trát quan trên xuống cho hay, đảng giặc vốn không ở làng tôi, thế là tất cả những người sống sót được tha cho về. Dọc đường, mọi người gặp gỡ đều mừng rằng tôi thoát nạn thật phúc lớn như trời. Tôi cũng chỉ đáp: “Chưa hẳn, chưa hẳn …”
Về đến làng mới hay, người vợ yêu xinh đẹp của mình, tưởng rằng tôi đã chết, nên bỏ đi mất … Khi ấy tôi mới thấy, thà rằng mình chết trên phủ đường có lẽ lại may phúc hơn. Rồi đau buồn quá, tôi chỉ biết vùi đầu đọc sách. Không ngờ tôi cũng không đến nỗi ngu dốt lắm, trước đây mải chăn loan gối phượng, không chịu học hành, nay chuyên chú đọc sách, quả văn chương cũng có hơn. Một đêm, đương ngâm nga vơ vẩn, chợt có một thiếu nữ phong t.ư tú lệ, còn đẹp hơn người vợ cũ, bước vào bảo: “Tiểu nữ vốn là con gái nhà tường đông. Nghe tiếng ngài đã lâu, trong lòng thật mến mộ. Lại biết ngài một thân cô lẻ, nên mạo muội đến đây, mong được hầu hạ nâng khăn sửa túi cho ngài. Dám xin ngài không chê cười …”
Tôi sững sờ ngây ra nhìn. Nhưng chợt nhớ lại mọi chuyện phúc phúc hoạ hoạ khi xưa, còn chưa dám nói gì …Bỗng có ngài đã đến gọi, làm giấc mơ cũng hết …

Tây Qua hỏi: “Thế chuyện của tại hạ, ngài bảo phải thế nào…?”

Hải Đường thị lắc đầu nói: “Lẽ trời vốn vi diệu. Cái vi diệu ấy nằm ở chính chỗ nhân duyên của con người. Chẳng ai có thể đem kinh nghiệm ra mà khuyên răn cả. Phúc ư? Hoạ ư? May ư? Rủi ư? Không thể biết được. Chỉ nên học theo người xưa, tự tự tại tại theo lòng mình đón nhận mà thôi. Như Vương Huy Chi thủa trước, “có hứng thì đến, hết hứng thì đi” vậy. Tôi chẳng thể có gì để nói cả …”

Tây Qua chợt đứng lên chắp tay bảo: “Ngày xưa xem sách có chuyện “Tái ông thất mã, bất tri phi phúc”. Nay chuyện mộng mị của ngài có thể gọi là: “Hải Đường đắc tình, bất tri phi phúc” được chăng?

Cả hai đều bật cười ha hả. Tây Qua dường chẳng còn nét âu sầu như khi mới đến nữa …
 
T

Tịch Địa

Guest
蚊之名Văn Chi Danh (Tên của muỗi)

客有来访海棠氏者。畅饮高谈说尽天下之事。曰:“仰观宇宙之大,俯察品类之盛,凡事皆得所出,凡物皆有其名。如鹃者,众皆知之,其名为杜宇也。蝇者,众亦可知之,其名为项橐也。至于蛭与蠊亦有本名,但不通野史,不读传奇,遂不知也。君博览群书,知之乎哉?

海棠氏答曰:蛭之名为范颜。蠊之名为徐荣。是否?

客又问:蚊耶?

海棠氏云:诚不知蚊也。

客言:蚊者,夜间呻吟,帐中吸人血是也。

海棠氏大笑而答曰:原来如此。此不必读书亦可知矣。夜间呻吟,帐中吸人血者,不是妇人乎?

客惊而叹曰:不料君亦知此。实只传为妇人而不记名也。

Phiên âm:



Khách hữu lai phỏng Hải Đường thị giả. Sướng ẩm cao đàm, thuyết tận thiên hạ chi sự. Viết: “Ngưỡng quan vũ trụ chi đại, phủ sát phẩm loại chi thịnh, phàm sự giai đắc sở xuất, phàm vật giai hữu kỳ danh. Như Quyên giả, chúng giai tri chi, kỳ danh vi Đỗ Vũ dã. Dăng giả, chúng diệc khả tri chi, kỳ danh vi Hạng Thác dã. Chí ư Chất dữ Liêm diệc hữu bản danh, đãn bất thông dã sử, bất độc truyền kỳ, toại bất tri dã. Quân bác lãm quần thư, tri chi hồ tai?”

Hải Đường thị đáp viết: Chất chi danh vi Phạm Nhan. Liêm chi danh vi Từ Vinh. Thị phủ?

Khách hựu vấn: Văn da?

Hải Đường thị vân: “Thành bất tri văn dã!”

Khách ngôn: “Văn giả, dạ gian thân ngâm, trướng trung hấp nhân huyết thị dã!”

Hải Đường thị đại tiếu nhi đáp viết: “Nguyên lai như thử. Thử bất tất độc thư diệc khả tri hĩ. Dạ gian thân ngâm, trướng trung hấp nhân huyết giả, bất thị phụ nhân hồ?”

Khách kinh nhi thán viết: “Bất liệu quân diệc tri thử. Thực chỉ truyền vi phụ nhân nhi bất ký danh dã.




Dịch:

Có người khách đến thăm Hải Đường thị. Uống rượu đàm luận, bàn đủ mọi chuyện trong thiên hạ.Khách bảo: “Ngửng trông vũ trụ bao la, cúi xét muôn vật phồn thịnh. Phàm việc gì cũng có chỗ xuất xứ của nó, phàm vật gì cũng có tên gọi của mình. Như chim quyên, mọi người ai cũng biết, tên nó là Đỗ Vũ. Con ruồi, mọi người cũng có thể biết rằng, tên nó là Hạngh Thác. Đến như con đỉa, con gián, vốn cũng có tên của nó. Nhưng không biết dã sử, không đọc truyền kỳ, thì không biết vậy. Ông đọc nhiều sách vở, có biết chứ?”

Hải Đường thị đáp: “Tên con đỉa là Phạm Nhan. Tên con gián là Từ Vinh. Có phải chăng?”

Khách lại hỏi thêm: Còn con muỗi?

Hải Đường thị nói: “Thực không biết muỗi là con gì.”

Khách nói: Con muỗi, là con mà đêm đêm rên rỉ (vo ve), hút máu người ta ở trong màn đó.

Hải Đường thị cười lớn mà đáp rằng: “Hóa ra là thế. Cái giống ấy thì chẳng cần đọc sách cũng có thể biết được. Đêm đêm rền rĩ, hút máu người ta trong màn chẳng phải là giống đàn bà sao?”

Khách kinh sợ mà than rằng: Không ngờ điều ấy ông cũng biết. Đúng là người ta chỉ truyền đó là đàn bà chứ không ghi rõ tên tuổi thực.”



(Trích t.ự "Hải Đường Nhàn Thoại)
 
T

Tịch Địa

Guest
Hồi được đọc cái Văn Chi Danh của chú Châu mình cứ đần mặt ra, hồi lâu sau mới có thể gật gù "Thâm... thâm thật!"
 
T

Tịch Địa

Guest
Muội đang tìm thêm vài tác phẩm của vị này để post đây ạ :cuoikha:
 
Status
Not open for further replies.

Những đạo hữu đang tham gia đàm luận

Top