Nhất Thất Lệnh

  • Thread starter Tịch Địa
  • Start date
Status
Not open for further replies.
T

Tịch Địa

Guest
Giới thiệu về thể từ này một chút:

Bạch Cư Dị (白居易) đời Đường (niên hiệu Đại Hòa năm thứ 3) đi nhậm chức ở Đông Đô, quần hiền chủ khách chín người trong đó có bọn Lý Thân, Nguyên Chẩn, Trương Tịch đều ra tống biệt nơi đình Hưng Hóa ở Trường An. Nhân tụ bạ ở đó, lại uống rượu làm thơ đưa tiễn nhau nên lấy hứng ra đề thơ rằng, các câu từ 1 đến 7 chữ, trừ câu đầu 1 chữ, đề vận hợp nhất để thành thi. Họ Bạch lấy luôn chữ Thi (詩) làm đề, các câu còn lại là một cặp tiểu đối, tự số tăng dần, thảy là 55 chữ, ra bài thành hình thơ bảo tháp với số chữ tăng dần trong các cặp ở mỗi câu từ đầu đến cuối. Vậy, về thực chất, ban đầu nó là thơ, sau với vần điệu và tính nhạc trong đó mà được đưa vào “Từ phổ - 詞譜” mà phổ thành một thể Từ (詞), lấy tên “Nhất thất lệnh – 一七令” thuộc cổ thể – 古體. Bài của họ Bạch cũng được coi như điển phạm cho người và các đời kế tiếp. Về sau này có phái sinh thêm một kiểu nữa gọi tân thể – 新體, đó là câu đầu thành một cặp, nhưng mỗi cặp chỉ có 1 chữ, thảy thành 56 chữ toàn bài. Việc này trong “Đường thi kỷ sự – 唐詩紀事” quyển tam cửu và “Từ phổ – 詞譜” quyển thập nhất đều có ghi chép. Thể loại Từ này đặc trưng, hình thức hy kỳ, số lượng các bài Từ làm theo thể này sau cũng không nhiều, ghi chép xưa cũng không thấy mấy.

Nguyên văn bài thơ của họ Bạch khi ấy như sau:


綺美,瓖奇
明月夜,落花時
能助歡笑,亦傷別離
調清金石怨,吟苦鬼神悲
天下只應我愛,世間惟有君知
自從都尉別蘇句,便到司空送白辭

Phiên âm:

Thi
Khỉ mỹ, Tương kỳ
Minh nguyệt dạ, Lạc hoa thì
Năng trợ hoan tiếu, Diệc thương biệt ly
Điệu thanh kim thạch oán, Ngâm khổ quỷ thần bi
Thiên hạ chỉ ưng ngã ái, Thế gian ưng hữu quân tri
Tự tòng đô úy biệt Tô cú, Tiện đáo t.ư không tống Bạch từ​

Ngắn gọn về lai lịch nguồn gốc tạm thời cũng mới chỉ biết thế. Nhân thấy không chỉ ở Trung Quốc mà ở ta giờ cũng có nhiều người hứng thú với kiểu loại cổ thể mà hình thức tân kỳ này, nên nay tạm biên ra đây các cách luật cơ bản của thể từ “Nhất thất lệnh” này đặng thi giới tiện bề tham khảo đối chiếu.

1. Bình vận cách
(Tổng số 55 chữ, cuối câu áp vận có bảy vần bằng)

Bằng
Trung trắc, Trung bằng
Bằng trắc trắc, trắc trung bằng
Bằng trung trung trắc, Trắc trung trung bằng
Trung bằng bằng trắc trắc, Trung trắc trắc bằng bằng
Trung trắc trắc bằng trung trắc, Trung bằng trung trắc bằng bằng
Trung trung trắc trắc bằng trung trắc, trung trung bằng bằng trắc trung bằng​

2. Trắc vận cách
(Tổng số 55 chữ, cuối câu áp vận có bảy vần trắc)

Trắc
Trung bằng, Trung trắc
Trắc trung trung, bằng trung trắc
Trắc trắc bằng bằng, bằng bằng trắc trắc
Trung trung trắc trung bằng, Trung trung bằng trung trắc
Trung bằng trắc bằng bằng trắc, Trung trắc bằng bằng trắc trắc
Trung bằng trung trắc trắc bằng bằng, Bằng trắc trắc bằng trung trắc trắc​

Chú ý:

Cổ thể thi từ thường áp bằng trắc theo hai vận như vậy. Đối với tân thể 56 chữ cũng không ngoại lệ, chỉ khác ở câu đầu tiên là hai chữ chia đôi thành một cặp đơn. Đối với Bình vận cách câu đầu sẽ là Bằng – Bằng, với Trắc vận cách sẽ là Bằng – Trắc. Từ câu thứ hai trở đi, cả hai loại cũng diễn tiễn như vậy, đại đồng tiểu dị.
Nhấn mạnh các cặp trong các câu ở đây đều là các cặp tiểu đối. Với vần Trung thì có thể là Trắc, cũng có thể là Bằng nhưng nhất thiết vẫn phải tuân thủ đúng theo luật đối, không chỉ đối ở thanh điệu mà còn đối cả ở ngữ nghĩa nữa.
Bằng trắc đã đối ứng, vận luật cũng phải áp chuẩn giữa các câu, giữa câu trên câu dưới. Cước vận không nên xuất hiện cùng một chữ giống nhau, đó cũng là yêu cầu tu từ ngữ pháp đặc trưng trong thể từ.
Việc phiên dịch, chuyển ngữ là khá khó khi bị lệ thuộc vào hình thức trình bày (hình tháp) của bài Từ. Viẹc bảo lưu nguyên ngữ vẫn khả quan hơn cả nếu người đọc có thể tự hiểu và cảm được.

Sơ khảo như vậy, tường khảo và tổng hợp sẽ viết sau.

Quán Toan, Hải Phòng Oct 19, 2011
Xuân Như (Nguồn: http://xuannhutapluc.thuhoavn.com/…/…/the-tu-nhat-that-lenh/)
 
T

Tịch Địa

Guest
一七令
.
天古鬼人

Nhất Thất Lệnh - Thiên Cổ Quỷ Nhân - Cổ Dã Tử

.

有道, 無邊
除性惡, 養心賢
死生由命, 離合隨緣
世上不生業, 雲間莫問仙
若得無求無怨, 必成自我自然
前身幾度抽刀斬, 後日何人高枕眠。
.

Thiên
Hữu đạo, vô biên
Trừ tính ác, dưỡng tâm hiền
Tử sinh do mệnh, ly hợp tuỳ duyên
Thế thượng bất sinh nghiệp, vân gian mạc vấn tiên
Nhược đắc vô cầu vô oán, Tất thành tự ngã tự nhiên
Tiền thân kỷ độ trừu đao trảm, Hậu nhật hà nhân cao chẩm miên.
.

Trời
Có đạo, vô biên
Trừ diệt tính ác, nuôi dưỡng tâm hiền
Sống chết do số mệnh, tan hợp tuỳ cơ duyên
Ở đời không gây nghiệp chướng, trên mây chẳng cậy thần tiên
Nếu đạt được không đòi hỏi không oán hận, tất trở thành tự thân mình hợp tự nhiên
Kiếp trước bao lần vung đao chém (làm việc ác), ngày sau ai người gối cao đầu ngủ ngon?



三生, 一步
多少愁, 短長苦
目前有門, 心中無路
愚夫人不爭, 賢士天還妒
策捲獨臥草床, 碑枕孤眠石墓
千載悠悠轉白經, 十輪念念傾黃土。
.

Cổ
Tam sinh, nhất bộ
Đa thiểu sầu, đoản trường khổ
Mục tiền hữu môn, tâm trung vô lộ
Ngu phu nhân bất tranh, hiền sĩ thiên hoàn đố
Sách quyển độc ngoạ thảo sàng, bi chẩm cô miên thạch mộ
Thiên tải du du chuyển bạch kinh, thập luân niệm niệm khuynh hoàng thổ.
.

(Từ) Cổ xưa
Trải ba kiếp (kiếp trước, kiếp này, kiếp sau), (chỉ như) một bước đi
Bao nhiều sầu, bấy nhiêu khổ
Cửa đang ở trước mắt, mà trong lòng không thấy lối
Kẻ ngu chẳng anh tranh ghét, nhưng người hiền trời lại đố kỵ
Cuộn quyển thẻ tre lại nằm một bình trên giường cỏ, gối đầu lên bia đá ngủ cô đơn trong lòng mộ đá
Ngàn năm khôn cùng xoay chuyển quyển kinh trắng (không chữ), mười vòng luân hồi niệm niệm (kinh) nghiêng ngửa cả mặt đất.



千魔, 百魅
恣如風, 柔似水
墨默無言, 萋凄不睡
惑影酌人迷, 幻生邀客醉
舉盃棄劃神忪, 回首拂冠聖畏
抱月玄靈竹下酣, 聞琴白骨詩中跪。
.

Quỷ
Thiên ma, bách mị
Tứ như phong, nhu tự thuỷ
Mặc mặc vô ngôn, thê thê bất thuỵ
Hoặc ảnh chước nhân mê, huyễn sinh yêu khách tuý
Cử bôi khí hoạch thần chung, hồi thủ phất quan thánh uý
Bão nguyệt huyền linh trúc hạ hàm, văn cầm bạch cốt thi trung quỵ.
.
Quỷ]
Nghìn ma, trăm quỷ
Phóng túng như gió, mềm dẻo như nước
Mực đen lặng im chẳng nói một lời, Cỏ xanh lạnh lẽo thê lương không ngủ
Hình ảnh mê hoặc chuốc cho người ta mê muội, Cuộc đời huyễn hoặc khiến cho khách say sưa
Ta nâng chén quẳng bút khiến cho thần cũng khiếp đảm, quay đầu phất mũ làm cho thánh cũng hãi hùng
Linh hồn u ám ôm trăng uống say sưa dưới rừng trúc, bộ xương trắng nghe thấy tiếng đàn cầm mà quỳ luỵ trong ý thơ.



宿命, 寄塵
看仙鏡, 見俗身
財如流水, 名似浮雲
生前居陋屋, 死後入金墳
何事覓愁濁世, 幾時醉飲涼春
睡落梦场未化蝶, 醒來桑陌已成薪。
.

Nhân
Túc mệnh, ký trần
Khan tiên kính, kiến tục thân
Tài như lưu thuỷ, danh tự phù vân
Sinh tiền cư lậu ốc, tử hậu nhập kim phần
Hà sự mịch sầu trọc thế, kỷ thời tuý ẩm lương xuân
Thuỵ lạc mộng trường vị hoá điệp, tỉnh lai tang mạch dĩ thành tân.
.
Kiếp người
Ở trọ trong số mệnh, gửi thân vào cõi trần
Nhìn vào mảnh gương tiên, thấy thân xác ta phàm tục
Tiền tài như dòng nước chảy cuộn, danh vọng tựa vầng mây chìm nổi
Khi còn sống thì ở trong căn nhà thô xấu, lúc chết rồi lại xuống ngôi mộ bằng vàng
Việc gì cứ tự tìm lấy sầu trong cuộc đời ô trọc này, đâu được mấy lần say uống chén xuân tươi
Say ngủ trong giấc mộng vẫn chưa kịp hoá bướm, thì tỉnh dậy thấy ruộng dâu nay đã biến thành củi khô.

Dịch thơ:
Nhân
Phàm tướng, tục thân
Không nhờ Phật, chẳng cậy Thần
Chán nơi tiên cảnh, vui chốn hồng trần
Cuốc kêu nghe biết hạ, Én liệng thấy tin xuân
Đêm đọc kinh thơ trên gác, ngày xem hoa tuyết trước sân
Dẫu có tu thành tiên vạn kiếp, chẳng bằng mộng hóa bướm đôi lần
(Nguyệt Sinh)
 
T

Tịch Địa

Guest

蕾白,花芬
煙陳舊,柳更新
微風拂拂,瑞氣欣欣
陌頭衣疊疊,江岸雨紛紛
佳節青山鋪艷,正期草木沖薰
為人世事還猶夢,對景心情自覺彬
(Xuân Như)

Xuân
Lỗi bạch, hoa phân
Yên trần cựu, liễu cánh tân
Vi phong phất phất, thụy khí hân hân
Mạch đầu y điệp điệp, giang ngạn vũ phân phân
Giai tiết thanh sơn phô diễm, chính kỳ thảo mộc xông huân
Vi nhân thế sự hoàn do mộng, đối cảnh tâm tình tự giác bân

Dịch thơ:

Xuân
Nụ hé, hoa cười
Khói lại cũ, liễu thêm tươi
Vi phong phe phẩy, thanh khí nơi nơi
Xiêm y phố rộn rã, mưa bụi bến rơi rơi
Hương cây cỏ đang lúc rộ, sắc núi xanh chính độ khơi
Nhìn cảnh tâm tình thêm hớn hở, đời người như giấc mộng đầy vơi
(Nguyệt Sinh)
 
T

Tịch Địa

Guest

叶落, 风吹
百鸟散, 一人归
遥看薄雾, 來望斜晖
但见长流水, 不知心想谁
年复年黄梅发, 日又日青颜羸
酒醉平生花下乐, 酒醒忽然花間悲

Duy
Diệp lạc, phong xuy
Bách điểu tán, nhất nhân quy
Dao khan bạc vụ, lai vọng tà huy
Đãn kiến trường lưu thủy, Bất tri tâm tưởng thuỳ
Niên phục niên hoàng mai phát, nhật hựu nhật thanh nhan luy
Tửu túy bình sinh hoa hạ lạc, Tửu tỉnh hốt nhiên hoa gian bi.

Dịch nghĩa:

Chỉ có
Lá rụng, gió thổi
Trăm chim bay loạn, một kẻ quay về
Xa nhìn làn sương mỏng, lại ngắm dải ráng chiều
Chỉ thấy nước miên man chảy, nào hay lòng tưởng nhớ ai
Năm lại năm mai vàng nở, ngày qua ngày dung nhan héo gầy
Say rượu bình sinh ngồi vui dưới hoa, tỉnh rượu chợt buồn trong khóm hoa.

(JakenLem - Cổ Dã Tử)

Duy
Lá rụng, gió lay
Một kẻ lại, Trăm chim bay
Nhìn làn sương mỏng, ngắm nắng cuối ngày
Nước chảy miên man đó, nhớ ai lòng chẳng hay
Năm lại năm mai vàng nở, Ngày qua ngày mặt héo gầy
Chợt buồn khi tỉnh bên hoa đó, Lại nhớ dưới hoa những lúc say
(Nguyệt Sinh)
 
T

Tịch Địa

Guest
Tình


海誓, 山盟
來無影, 去留形
相思同飲, 相恋共鳴
闇淚膓肝倒, 殘言魂魄傾
鳳求凰求難卻, 妾恨君恨不成
酷酒未乾忘別梦, 弦琴已断願來生。

Tình
Hải thệ, sơn minh
Lai vô ảnh, khứ lưu hình
Tương t.ư đồng ẩm(1), tương luyến cộng minh
Ám lệ trường can đảo, tàn ngôn hồn phách khuynh
Phụng cầu hoàng(2) cầu nan khước, thiếp hận quân hận bất thành
Khốc tửu vị can vong biệt mộng, huyền cầm dĩ đoạn nguyện lai sinh.

Tình
Hẹn biển, thề non
(Tình) đến thì không thấy ảnh, đi thì lưu lại bóng hình
Nhớ nhau cùng uống (nước sông Tương), (Đôi uyên ương) yêu nhau cùng hót
Giọt lệ thầm (của người) khiến ruột gan (ta) đảo lộn, lời nói tàn nhẫn làm hồn phách ngã nghiêng
Phụng cầu Hoàng cầu khó mà chối từ, thiếp hận chàng hận sao hận chẳng thành
Rượu nồng chưa uống cạn mà vong biệt giấc mộng, dây đàn cầm đã đứt đoạn thôi đành hẹn kiếp sau.

Cổ Dã Tử
___

Chú thích:

(1) Lấy ý từ bài Trường Tương t.ư của Lương Ý Nương. Trong bài thơ có đoạn:

Thiếp tại Tương giang đầu
Quân tại Tương giang vĩ
Tương t.ư bất tương kiến
Đồng ẩm Tương giang thuỷ

Nghĩa là:

Thiếp tại đầu sông Tương
Chàng ở cuối sông Tương
Nhớ nhau chẳng được gặp nhau
Cùng uống nước sông Tương.

(2) Câu này có 2 ý:

1.Con chim phụng (trống) tìm con chim hoàng (mái).
2.Khúc "Phụng cầu hoàng" của t.ư Mã Tương Như đời Tây Hán. Theo sử chép, t.ư Mã Tương Như đem lòng yêu mến Trác Văn Quân, bèn viết khúc Phụng cầu hoàng rồi vừa đàn vừa hát cho nàng nghe. Trác Văn Quân do cảm cái tài của t.ư Mã mà bỏ nhà đi theo chàng.​
 
T

Tịch Địa

Guest
一七令 - 緣


如月, 若煙
當散索, 又團圓
相逢知己, 離別嬋娟
何意入詩賦, 此心動管弦
美酒金樽已滅, 高山流水依然
成敗存亡無可彊, 人情世態只應軒

Nhất thất lệnh - Duyên

Duyên
Như nguyệt, nhược yên
Đương tán tác, hựu đoàn viên
Tương phùng tri kỷ, ly biệt thiền quyên
Hà ý nhập thi phú, Thử tâm động quản huyền
Mỹ tửu kim tôn dĩ diệt, Cao sơn lưu thủy y nhiên
Thành bại tồn vong vô khả cưỡng, nhân tình thế thái chỉ ưng hiên
(Nguyệt Sinh)

Dịch nghĩa
Duyên
Như trăng, như khói
Đang tan tác, lại xum họp
(Vì đó mà) Gặp gỡ được người tri kỷ, (cũng vì đó mà) phải ly biệt hồng nhan
Ý tứ nào nhập vào trong thơ phú, lòng này lay động tới tiếng quản huyền
Rượu ngon, chén vàng cũng đã mất, Cao sơn lưu thủy vẫn còn đây
Việc thành bại còn mất chẳng thể khiên cưỡng, (Trước) thế thái nhân tình chỉ nên mỉm cười
@Vivian Nhinhi có khi lại lôi lên cho các vị có hứng làm tiếp ấy chứ, anh Cổ thì khó, do dạo này khá bận, để xem Nguyệt công tử như nào.
 
Status
Not open for further replies.

Những đạo hữu đang tham gia đàm luận

Top